Khoa học với sản xuất chăn nuôi
Thực tiễn cho thấy, với phương thức chăn nuôi được thay đổi, tổng sản phẩm chăn nuôi cung cấp cho xã hội chủ yếu vẫn là hộ gia đình hay quy mô gia trại vừa và nhỏ, còn phù hợp ở nước ta hiện nay. Bởi lẽ, còn tận dụng được sức lao động trong thời gian nông nhàn; lao động của người cao tuổi ở nông thôn; lao động của học sinh trong những tháng hè. Về nguồn thức ăn vô cùng phong phú ở mỗi địa phương, bấy lâu nay chưa sử dụng hết hoặc chưa biết sử dụng một cách hợp lý cho từng đối tượng vật nuôi. Xây dựng chuồng trại trên những vùng đất tự có, tuỳ theo diện tích và cơ cấu đầu con để xây dựng các gia trại quy mô vừa và nhỏ. Các vật liệu xây dựng chuồng trại đơn giản đều sẵn có ở mọi địa phương, áp dụng các TBKT trong chăn nuôi… Những yếu tố cơ bản ấy, tạo cho giá thành hạ cần có giao thông thuận tiện tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá với mọi thị trường, sản xuất có đầu ra và tương đối ổn định, có hiệu quả kinh tế.
Dù sao phương thức chăn nuôi truyền thống vẫn còn có giá trị, nhưng trong xu thế hội nhập trong sân chơi WTO, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, cần có phương thức kết hợp mạnh mẽ và chặt chẽ hơn giữa các nhà khoa học với các doanh nghiệp và các nhà chăn nuôi.
Nói về khoa học kỹ thuật: các công trình nghiên cứu hàng năm cho ra “lò” không ít, nhưng thực tế vào sản xuất chưa được là bao! Phải chăng các sản phẩm ra “lò” ấy chưa thật đáp ứng điều kiện và nhu cầu sản xuất, tựa như “sản xuất ngứa vai - khoa học gãi bụng”. Nguyên nhân vì sao vậy? Phải chăng nhà khoa học bị “bao cấp tư duy”, để chạy theo kinh phí các dự án, đề tài… tạo công ăn việc làm cho đơn vị và cá nhân. Ngoài ra, còn là công trình để đào tạo là cần thiết, nhưng công trình ấy phải vào sản xuất có hiệu quả. Đó mới là công trình khoa học xứng đáng với “học vị, chức danh”.
Khoa học kỹ thuật chăn nuôi, phần lớn là khoa học kỹ thuật có tính chất ứng dụng, cho nên không cần thiết kéo dài lê thê qua nhiều năm tháng. Chỉ cần điều kiện sản xuất có gì? Nhu cầu sản xuất trước mắt và lâu dài cần gì? Nhà khoa học hãy lắng nghe, hiểu thấu chủ động đề xuất kịp thời để hạn chế dần “bao cấp tư duy”. Tìm chọn những vấn đề khoa học kỹ thuật phù hợp đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, thích hợp trong từng thời gian để có hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
Để công trình khoa học kỹ thuật “lọt vào mắt xanh” sản xuất, điều hấp dẫn là công trình đó không những chỉ có căn cứ khoa học mà phải tính đến hiệu quả kinh tế trong điều kiện thực tế của sản xuất. Nếu công trình có lợi cho người chăn nuôi chắc chắn sẽ được áp dụng rộng rãi, lâu dài. Đó là “mầm sống” của công trình.
Nhiều nhà khoa học chăn nuôi “chân đất” từ thực tiễn sản xuất họ cũng “nghiên cứu” để đúc rút kinh nghiệm áp dụng vào chăn nuôi có hiệu quả. Các kinh nghiệm đó, được nhiều người chăn nuôi đến học tập áp dụng đều thu được kết quả tốt. Có lẽ, những “công trình” đó được lan toả rộng hơn, thích hợp hơn so với các đề tài mà các nhà khoa học chăn nuôi đã và đang có trách nhiệm nghiên cứu tìm tòi. Vậy, các nhà khoa học cần suy ngẫm! Phải chăng những kinh nghiệm của các nhà khoa học “chân đất” đã khởi động để cơ quan quản lý khoa học, cơ quan quản lý ngành và các nhà khoa học, vì sản xuất mà tiếp tục đi sâu nghiên cứu và nâng cao những kinh nghiệm quý báu dó, để đưa nhanh, rộng vào sản xuất.
Để giúp các nhà quản lý và các nhà khoa học biết đúng “chỗ ngứa”, các doanh nghiệp trong ngành, các nhà chăn nuôi nên tìm đến các cơ quan quản lý ngành, cơ quan nghiên cứu khoa học và các nhà khoa học để “đặt hàng” và tạo điều kiện để các nhà khoa học nghiên cứu thông qua các hợp đồng cụ thể trách nhiệm của hai bên. Đó là biện pháp để công trình của các nhà khoa học gắn với thực tiễn sản xuất và người chăn nuôi áp dụng có hiệu quả kinh tế cao. Tạo được nhiều sản phẩm có chất lượng cung cấp cho xã hội.
Khoa học phải phục vụ sản xuất - sản xuất cần áp dụng khoa học.








