Khoa học trong màu sắc của hội họa thế kỷ 19
Được coi là họa sĩ tự nhiên vĩ đại nhất trong lịch sử nghệ thuật hiện đại, Monet cho rằng cảm xúc của con người trước môi trường vật lý xung quanh thay đổi liên tục cùng với những nhận thức về ánh sáng và màu sắc.
Trong tác phẩmBên bờ sông Seine, Bennecourt (1868), một bức họa mà người nữ trong đó chính là vị hôn thê của Monet, Monet đã nắm bắt được một cảm giác thoáng qua về cảnh vật bằng bút pháp phóngkhoáng và bố cục độc đáo của mình.![]() |
| Bên bờ sông Seine, Bennecourt (1868) của Monet |
Cảm giác mà bức tranh mang lại là cảm giác tiền nhận thức – tức là trước khi trí óc ghi nhận và chuyển những gì nó thấy thành ký ức. Người đàn bà trong bức họa không nhìn về phía ngôi nhà và những hàng cây dọc bờ sông, mà nhìn vào những lay động phía dưới rặng cây và bạt ngàn gợn sóng lấp lánh trên mặt sông, một phối cảnh lặp lại quá trình nhận thức chính nó.
Những hình ảnh trong khung của ánh sáng đập vào mắt, trên một tổng thể hoàn chỉnh với phông nền là cảm giác chủ đạo. Khi ánh sáng xuyên qua, nó bị nghịch chuyển và phản chiếu lên mặt sau của tổng thể những xúc cảm từ ánh sáng- nơi não xử lý thông tin.
Hội họa của Monetnắm bắt những rung động giữa cảm giác và tri giác – nói cách khác, bằng cây cọ và sắc màu của mình, ông đoạt được những khoảnh khắc ngẫu nhiên. Những ngẫu nhiên ấy truyền đạt một cảm xúc run rẩy -khi ánh sáng và màu sắc của cảnh vật luân chuyển và thời gian thì cứ trôi đi.Vài năm sau khi tác phẩm Bennecourtcủa Monet ra đời, Georges Seurat bắt đầu vẽ bức Ngày Chủ nhật ở La Grande Jatte – 1884 (1884-1886). Là sinh viên mỹ thuật của Học viện Mỹthuật ở Paris, ông nghiên cứu thuốc màu, và bức tranh rực rỡ này là một bài tập của lý thuyết màu sắc.
![]() |
| Ngày Chủ nhật ở La Grande Jatte của Seurat. |
Không giống như các nghệ sĩ Phục hưng và Hà Lan, Seurat và Monet không pha trộn màu dầu. Họ tận dụng thành tựu của các nhà hóa học người Pháp đầu thế kỷ 19, những người đã sáng chế ra cả sơn trộn sẵn đóng vào các tuýp và các chất màu dạng tổng hợp, ví dụ như màu xanh biếc (xanh biển đậm), thứ màu mà trước đây được làm từ đá da trời, và vì thế đó là chất màu đắt đỏ nhất. Seurat và Monet với những đồng tiền ít ỏi sẽ không thể có được thứ màu xanh ngắt ngập tràn trong những tác phẩm thực nghiệm của họ nếu không có những thành tựu khoa học đầu thế kỷ đó.
Sử dụng những loại sơn dầu mới này, Seurat sáng chế ra một kỹ thuật có tên là Pointilism [kỹ thuật vẽ tranh bằng những chấm li ti như một sự pha trộn màu] để nghiên cứu xem những màu liền kề nhau sẽ hòa hợp như thế nào khi ta nhìn bằng mắt thường.










