Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 25/01/2012 13:07 (GMT+7)

Khoa học ra trường Sa

Kết quả của những đợt điều tra, khảo sát về điều kiện tự nhiên, vật lý khí tượng thủy văn, địa chất công trình, đa dạng sinh học, nguồn lợi thiên nhiên…trên các đảo trong quần đảo Trường Sa đã góp phần tích cực vào bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển đảo.

Chiếc cặp từ Trường Sa.

Cuối năm 1988, PGS.TS Trần Đức Thạnh (hiện là viện trưởng Viện Tài Nguyên và môi trường biển) 34 tuổi. Thành quả của anh đem về đất liền sau những ngày ở Trường Sa là một chiếc cặp đầy ắp giấy tờ ghi chép đủ loại số liệu và hai bao tải mẫu vật chất cứng.

Anh về đến Hà Nội khi không khí Tết Nguyên đán đã rộn ràng khắp đường phố. Từ Hà Nội, Thạnh lên  tàu hỏa về Hải Phòng. Chuyến tàu cuối năm vắng người nên chẳng có ai để trò chuyện. Vả lại, do mệt sau chuyến đi dài nên khi tàu rời ga Hàng Cỏ cũng là lúc Thạnh thiếp đi. Đến ga Long Biên, Thạnh bừng tỉnh và hoảng hốt nhận ra ba lô và cặp đã biến mất, chỉ còn lại hai bao tải mẫu vật. Ngay lập tức, anh xuống tàu vào công an trình báo.

Về đến Hải Phòng đúng 26 Tết, Thạnh như người mất hồn, tâm trạng lo lắng vô cùng. May cho anh là khoảng 4-5 tháng sau thì tìm được chiếc cặp. Một công nhân đã nhặt được nó ở bãi giữa sông Hồng. Kẻ trộm sau khi lục lọi không thấy gì, chỉ thấy toàn giấy tờ nên đã ném chiếc cặp qua cửa sổ tàu. Do tàu khi ấy đang qua cầu Long Biên nhưng lại đúng đoạn bãi bồi giữa sông nên chiếc cặp đã không bị ném xuống sông.

Nỗi lo lắng của Thạnh lẽ ra đã kết thúc sớm hơn nếu chiếc cặp đến tay anh ngay khi được tìm thấy. Nhưng vì dòng địa chỉ cơ quan ghi ở cuốn nhật ký thực địa trong cặp bị mờ và tên thành phố Đà Nẵng nơi cơ quan anh đóng bị nhầm thành TP Đà Nẵngnên chiếc cặp đã làm một cuộc hành trình ngược vào Đà Nẵng. Cơ quan bưu điện sau khi không tìm thấy địa chỉ nơi nhận, chỉ thấy liên quan tới khoa học nên gửi chiếc cặp ra Bộ khoa học – công nghệ và môi trường. Tại đây, sau một thời gian xác minh, chiếc cặp được đưa về cho Thạnh.

Tiến sĩ thợ lặn

Ra Trường Sa khá sớm, từ tháng 4/1981, TS Nguyễn Huy Yết là một trong số những nhà khoa học Việt Nam đầu tiên đặt chân đến quần đảo Trường Sa trong Chương trình hợp tác nghiên cứu biển giữa Việt Nam và Liên Xô.

Để chuẩn bị chochuyến công tác đầy ý nghĩa này, từ năm 1979 Yết được phía Liên Xô đào tạo khá bài bản về kỹ thuật lặn khí tài (SCUBA). Sau này, anh tham gia khóa đào tạo do Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tổchức và được cấp bằng của PADI (Mỹ), trở thành một trong những nhà khoa học – thợ lặn đầu tiên nghiên cứu trực tiếp đáy biển của Việt Nam. Anh kể: “Công việc của tôi trong chuyến đi năm 1981 là lặnkhảo sát san hô ở độ sâu 20-30m”.

Không chỉ ra Trường Sa từ sớm, Nguyễn Huy Yết còn là một trong số hiếm nhà khoa học hàng đầu chuyên nghiên cứu về san hô và sinh thái biển của Việt Nam và có số lần ra Trường Sa khá nhiều. Sau chuyến đi năm 1981, anh lần lượt ra khảo sát, nghiên cứu tại các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Đá Tây, Song Tử Tây, Thuyền Chài vào các năm 1988, 1994, 1995, 1996, trong đó có chuyến đi năm 1996 ra đảo Thuyền Chài bằng tàu ngư dân chật chội, đầy mùi dầu mỡ và mùi tanh của cá đã đem lại cảm giác thú vị nhất.

Nhưng chuyến đi năm 1988 lại có những kỷ niệm khó quên nhất đối với TS Yết và các đồng nghiệp. Lên đảo hôm trước, hôm sau trời chuyển bão. Tàu nghiên cứu va vào đá ngầm hỏng chân vịt, trôi theo sóng không làm cách nào giữ được. Kế hoạch ban đầu chỉ ở lại nghiên cứu một tuần nhưng các nhà khoa học đã bị kẹt lại trên đảo tới 45 ngày. Làm việc và ăn Tết dương lịch trên đảo, chỉ đến khi tàu vận tải của hải quân ra thì các nhà khoa học mới được về đất liền. Còn chiếc tàu nghiên cứu bị trôi tới tận vùng biển giáp Malaysia mới được cứu kéo về.

Trong cái rủi có cái may vì với một tháng rưỡi trên đảo, các nhà khoa học đã có được một khoảng thời gian vàng để đo đạc, khảo sát. “Đợt kẹt lại 45 ngày trên đảo đã cho chúng tôi nhiều thời gian khảo sát hơn và số liệu thu thập được rất phong phú” – anh Yết nói.

Nỗi sợ say sóng của nhà khoa học nữ

Khác với các đồng nghiệp nam, TS địa vật lý Phan Thị Kim Văn cho biết ra Trường Sa nghiên cứu sợ nhất bị say sóng trên đường đi. Sau nhiều năm kể từ khi các nhà khoa học VN tiến hành nghiên cứu tại Trường Sa, chị Văn vẫn nằm trong số rất ít nhà khoa học nữ ra khảo sát ở Trường Sa.

Là phó giám đốc phụ trách Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề về nước (Viện Địa chất), theo TS Văn: “Các vùng bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nói chung và nước biển dâng nói riêng nhiều nhất là vùng ven biển và hải đảo. Ở các đảo, đặc biệt là Trường Sa, đến lúc tôi nghiên cứu vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào về ảnh hưởng của nước biển dâng. Khi nước biển dâng bao giờ cũng làm mất đất, làm xói mòn bờ biển, nguồn nước ngọt bị ảnh hưởng”.

Từ thực tế đó, TS Văn đề xuất với viện đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đối với quần đảo Trường Sa.

Tự nhận mình là “cổ hủ”, TS Văn bảo đích thân chị phải đi thực tế khảo sát cả hai lần ra đảo vào các năm 2009, 2010. “Nhiều người bảo tôi là phụ nữ đi Trường Sa vất vả lắm, để cho an hem nam giới đi nhưng tôi nghĩ mình là chủ nhiệm, là người phân tích, tính toán thì phải trực tiếp đi khảo sát mới yên tâm. Đã làm khoa học thì phải đam mê, không thể cứ thấy khó khăn mà bỏ được, càng khó khăn càng thôi thúc mình nghiên cứu”.

Nghiên cứu về biển đảo là lĩnh vực khoa học nặng. Nếu nghiên cứu trên bờ chỉ cần một chiếc xe đạp để đi, chỉ cần lấy mẫu vật một lần là được nhưng nghiên cứu ở biển, đảo thì phải có tàu, phải nghiên cứu trong khoảng thời gian dài, phải có một chuỗi số liệu vì biển biến động mạnh, không thể đi một hai lần đã nói là hiểu biết về biển đảo. Năm nay biển thế này nhưng năm sau sẽ khác nên nguyên tắc là phải nghiên cứu dài ngày rồi tổng hợp lại, lúc đó mới có số liệu tin cậy. Thậm chí để hiểu về vùng biển của mình thì phải nghiên cứu cả vùng biển lân cận vì chúng liên quan đến nhau.

GS Đặng Ngọc Thanh

Xem Thêm

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.