Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 25/06/2009 18:36 (GMT+7)

Khai thác khoáng sản bền vững ở một số nước trên thế giới

Ngày nay, trong khi xem xét cấp giấy phép, các quốc gia có tài nguyên đều yêu cầu các công ty khai khoáng phải cam kết thực hiện khai thác bền vững. Mặt khác, khai thác bền vững là chiến lược của ngành công nghiệp nhằm đề cao tín nhiệm của mình bằng cách nâng cao năng lực vận hành công nghiệp khai khoáng.

1. Tại sao phải khai khoáng bền vững

Ngành khai khoáng đang đứng trước những thách thức lớn: Tình trạng khai thác hiện tại là không bền vững, sự tuỳ tiện sử dụng tài nguyên của xã hội đang đứng trước khủng hoảng và càng ngày càng có nhiều rào cản. Bởi vậy, chúng ta phải làm tốt hơn trách nhiệm của chúng ta về vận hành và lắng nghe ý kiến đóng góp của xã hội đối với ngành mình để tìm cách cùng xã hội vận hành ngành này tốt hơn. Trong quá trình khai thác khoáng sản, có những vấn đề:

- Thông thường mỏ có tuổi đời hoạt động lâu khiến cho hình thành những cộng đồng dân cư mới và tự phát triển của cộng đồng tại đây. Đây là những đối tượng chịu nhiều áp lực kinh tế khi đóng cửa các mỏ.

- Bùng nổ dân số quanh khu mỏ ở những vùng xa xôi hẻo lánh ảnh hưởng đến động thực vật hoang dã và đa dạng sinh học.

- Nói chung khai thác mỏ không phát thải nhiều vào khí quyển, tuy nhiên khai thác mỏ lại tạo rủi ro đáng kể làm biến dạng với bề mặt trái đất và nước ngầm.

- Khai thác mỏ tạo ra khối lượng đất đá thải và quặng đuôi lớn, có chứa cả các chất độc hại, và chất thải phải được lưu giữ một cách tốt nhất đối với môi trường, thường là lưu giữ vĩnh viễn.

- Khôi phục lại khu vực khai thác như ban đầu là một thách thức lớn, tốn kém và phải thực hiện ngay trong khi mỏ đang hoạt động, nếu thực hiện vào lúc đóng cửa thì luồng tiền gần hết.

Ngành công nghiệp bắt đầu đề cập đến phát triển bền vững vào khoảng 1996 tại các cuộc họp của Hội đồng Kim loại và Môi trường Quốc tế (ICME), một tổ chức gồm 30 công ty khai khoáng quốc tế có trụ sở đóng tại Ottawa, Canada. Năm 2000, một Hiến chương Phát triển bền vững cho ngành khai khoáng được soạn thảo và được Hội đồng ICME thông qua Hiến chương này và là một công cụ thông tin xã hội nhưng lại không đủ để làm thay đổi những quan điểm chống đối trong ngành công nghiệp.

Vào năm 1999, ICME quyết định tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ cởi mở và sẵn sàng lắng nghe, và thành lập ra Sáng kiến Khai khoáng toàn cầu. Họ yêu cầu Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển bền vững (WBCSD) có trụ sở ở Geneva xây dựng Hướng dẫn tổng thể và lập ra một nhóm các nhà tài trợ. Thông qua WBCSD, các giám đốc ký hợp đồng với Viện Phát triển và Môi trường Quốc tế đóng ở London tiến hành một dự án phát triển bền vững đối với ngành khai thác khoáng sản (MMSD) với 4 mục tiêu lớn của MMSD:

- Đánh giá lĩnh vực khai thác khoáng sản toàn cầu với tinh thần chuyển đổi sang phát triển bền vững;

- Vạch ra các chiến lược để đảm bảo rằng toàn bộ khâu cung cấp khoáng sản cần gắn liền với phát triển bền vững;

- Kiến nghị những giải pháp lớn nhằm hoàn thiện hệ thống khai thác khoáng sản.

Tiếp sau đó, các tổ chức tài chính quốc tế (như WB, IFC, OECD…), khu vực và các quốc gia đã hoàn thiện các cơ chế - tiêu chuẩn, hướng dẫn thực hiện tính bền vững trong khai thác khoáng sản. Và các công ty khai khoáng cũng lập ra những qui định, hướng dẫn phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Khai thác bền vững gồm có 6 vấn đề chủ yếu:

- Quản lý chất thải (đất đá thải, quặng đuôi, các chất thải độc hại);

- Quản lý năng lượng;

- Trao đổi thông tin khủng hoảng;

- Phối hợp với các tổ chức, cá nhân bên ngoài khu mỏ;

- Quan hệ với người dân bản địa;

- Đa dạng sinh học.

Để thực hiện những vấn đề trên, người ta xây dựng nên những công cụ như là hệ thống các biện pháp thực hiện, hệ thống kiểm tra, báo cáo thực hiện, hướng dẫn báo cáo, biên bản đánh giá và hướng dẫn kỹ thuật.

2. Phát triển bền vững đối với các công ty khai khoáng

Thực tế cho thấy là để có thể tồn tại và phát triển được, các công ty khai khoáng lớn thế giới phải đề ra những giải pháp để thực hiện khai thác bền vững của mình như:

- Lôi kéo cộng đồng quan tâm đến xác định vị trí, mặt bằng mỏ, nhà máy tuyển rửa và thực hiện những sáng kiến khai thác bền vững của họ’

- Tìm kiếm, cam kết và hỗ trợ đối thoại về sản xuất - kinh doanh của họ;

- Khuyến khích thực hiện xuyên suốt trong công ty để đạt được quản lý tài nguyên bền vững ở nhưng nơi mà họ hoạt động;

- Tiến hành mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh với độ hoàn hảo cao, minh bạch và tinh thần trách nhiệm cao;

- Bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho người lao động và cộng đồng, đóng góp vào sáng kiến Toàn cầu nhằm thúc đẩy sản xuất – kinh doanh, sử dụng và tái sử dụng khoáng sản một cách an toàn và thân thiện với môi trường;

- Tìm cách giảm thấp nhất ảnh hướng của hoạt động sản xuất đến môi trường và đa dạng sinh học thông qua các bước phát triển, từ thăm dò đến đóng cửa mỏ;

- Hợp tác với cộng đồng để họ quan tâm phát biểu những vấn đề liên quan đến các mỏ bị bỏ hoang và các mỏ đã khai thác hết quặng;

- Tiếp tục hoàn thiện điều hành thông qua ứng dụng công nghệ mới, phát minh sáng kiến và ứng dụng tốt nhất trong mọi góc cạnh của hoạt động sản xuất;

- Tôn trọng quyền con người, đối xử công bằng, tôn trọng nhân phẩm; Tôn trọng văn hoá, tập tục và giá trị con người tham gia hoạt động sản xuất;

- Công nhận và tôn trọng vai trò, đóng góp và quan tâm đến người dân bản địa;

- Tôn trọng tất cả các luật lệ và qui định của mỗi nước mà các công ty đang hoạt động và áp dụng các tiêu chuẩn trong Hướng dẫn tổng thể và cam kết đối với những thông lệ quốc tế;

- Hỗ trợ cộng đồng tham gia những dự án khai khoáng mới và những sản xuất hiện tại;

- Có trách nhiệm đối với cộng đồng, đối với nhu cầu và mối quan tâm thông qua tất cả các giai đoạn từ thăm dò, phát triển, khai thác và đóng cửa mỏ;

- Đem lại lợi ích lâu dài cho cộng đồng địa phương thông qua chương trình phát triển bền vững để đem lại cho họ chăm sóc kinh tế, môi trường, xã hội, giáo dục và sức khoẻ.

3. Một số ví dụ về thực hiên khai khoáng bền vững ở các nước.

3.1 Công ty Than lllawarra giảm sử dụng nước lớn nhất Sydney

Công ty Than lllawarra của BHP Billiton khai thác hầm lò tại 3 mỏ ở vùng lllawarra và Wollondilly, các Sydneygần 80 km về phía Nam . Sydney thiếu nước và người dân ở đây phải tuân theo những qui định tiết kiệm sử dụng nước. Mỏ Appin sử dụng một lượng nước đang kể, khaỏng 1.600 m3 mỗi ngày. Công ty phải tìm cách giảm thiểu sử dụng nước. Nằm trong chiến lược giảm tiêu thụ nước, một nhà máy lọc thấm ngược trị giá 6 triệu AUD được xây dựng để xử lý và tái sử dụng 2.300 m3 nước mỗi ngày.

Trong tháng 11 - 2007, Công ty Cấp nước Sydney công nhận thành quả này đã giảm được 660 m3 nước sạch mỗi ngày và cấp cho Công ty lllawarra giải thưởng giảm sử dụng khối lượng nước lớn nhất.

Công ty lllawarra có ba mỏ là Appin, Appin/ West, West Cliff và Dendrobium – và hai mỏ chuẩn bị đi vào khai thác – West Cliff và Port Kembla. Công ty sử dụng 1.300 lao động trực tiếp để khai thác than mỡ chất lượng cao.

Mở mỏ trong năm 1962, mỏ Appin Colliery là một trong những mỏ đầu tiên ở Úc áp dụng công nghệ khai thác cột dài theo phương ở độ sâu 550 m, khai thác than mỡ cứng, chất lượng cao từ mạch than Bullin. Dập bụi và làm mát là những khâu sử dụng nhiều nước nhất.

Bằng cách chuyển hoá nước ngầm nhiễm muối nhẹ để sử dụng lại tại chỗ và cấp cho các mỏ gần kề, nhà máy có thể giảm lượng nước ngọt lấy từ Công ty cấp nước Sydney tới 2.300 m3 nước mỗi ngày. Hiện nay nhà máy vận hành với công suất 1.450 – 1.800 m3/ ngày.

Nhà máy nâng cao chất lượng và giảm độ mặn của nước trong mỏ và cho chảy vào sông Nepean . Nước muối hiện tại được chuyển đến một điểm xả, tuy nhiên nhà máy có kế hoạch làm muối là sản phẩm phụ của mình để bán.

Nhà máy lọc nước hiện đại của Công ty là nhà máy đầu tiên lọai này ở lllawarra, áp dụng công nghệ và chu trình hiện đại đem lại lợi ích lâu dài cho khai thác mỏ của công ty, cho cộng đồng và môi trường xung quanh.

Công ty sẽ tiếp tục tăng lượng nước tái chế và thu hồi lại, cũng sẽ tìm kiếm những công nghệ để tiết kiệm nước ở mỏ than này.

3.2 Tái sử dụng đất để có thu nhập, bảo vệ môi trường cho cộng đồng Guinea

Trồng cây hạt điều tại mỏ khai thác cát trước đây đã đem lại thu nhập bền vững cho những người phụ nữ của một cộng đồng Guinea hẻo lánh, đồng thời cũng bảo vệ môi trường cho cả đất đai và người dân ở đây.

Cuối năm 2005, Quỹ Alcoa cung cấp vốn cho Hội Phụ nữ để khôi phục 10 ha mỏ cát. Mỏ cát được khai thác để lấy cát xây nhà và các công trình xây dựng khác.

Khai thác mỏ đã phá huỷ rừng ở đây và gây ra sự xói mòn đất, khai thác lộ thiên cũng rất nguy hiểm cho cả người lẫn súc vật. Nhiều tai nạn và tử vong đã xảy ra bởi những hố, rãnh khai thác này.

Trồng cây không chỉ khôi phục hệ thực vật và bảo vệ môi trường mà còn đem lại thu nhập bền vững từ việc bán hạt điều. Phụ nữ của cộng đồng ở Bintimodia chịu trách nhiệm chăm sóc cây và thu hoạch hạt mỗi năm. Thu nhập được phân phối cho các thành viên tham gia.

3.3 Alcoa tiếp tục giữ vai trò đi đầu về phục hồi đất ở Úc

Alcoa được coi là công ty đi đầu trong phục hồi vùng mỏ tại bang Tây Úc và bang Victoria . Tại Tây Úc, Alcoa đã phục hồi 430,2 ha đất sau khi khai thác trong năm 2005. Mục tiêu chủ yếu của chương trình phục hồi là gây dựng lại hệ sinh thái rừng bạch đàn vốn có ở đây trước khi khai thác mỏ. Một cấu thành cơ bản của mục tiêu này là phục hồi 100% độ phong phú thực vật của rừng bạch đàn.

Khu vực phục hồi lại được kiểm tra sau 15 tháng để so sánh độ phong phú thực vật với các khu vực không có khai thác gần đó. Độ phong phú này thay đổi từng năm bởi điều kiện của các mùa trong năm làm ảnh hưởng đến mức độ gieo hạt trong lớp đất bề mặt và tỷ lệ mọc mầm. Kiểm tra cho thấy đạt được 96% độ phong phú thực vật trong khu vực khôi phục.

Khôi phục hệ động vật là một yếu tố quan trọng khác trong phục hồi hệ sinh thái. Kiểm tra hệ động vật tại khu vực phục hồi cho thấy 100% loài có vú, 90% loài chim và 78% loài bò sát đã đến định cư tại khu vực này. Alcoa cũng làm gia tăng tính đa dạng động vật bằng cách hỗ trợ và tiến hành nghiên cứu trong khu vực này.

Một yếu tố quan trọng khác đã thành công trong chương trình phục hồi vùng đất mỏ là liên kết với kế hoạch khai thác. Công việc khôi phục được giám đốc sản xuất điều hành, và mục tiêu là độ phong phú các hệ động thực vật được đưa vào mục tiêu sản xuất.

Từ khi bắt đầu khai thác năm 1963, Alcoa đã khôi phục được 12.594 ha ở Tây Úc và thu dọn 15.222 ha khác. Trong năm 2005, Alcoa khôi phục được 5,6 ha tại Anglesea. Kiểm tra sau 18 tháng khôi phục thấy độ phong phú thực vật cao hơn so với khu vực hoang không khai thác gần đấy.

Chương trình khôi phục Anglesea trong năm 2006 tập trung vào khu vực đã được khôi phục lần đầu hơn 20 năm trước, lần này trồng loại cây vốn không có ở đây. Khu vực này đã được thu dọn sạch và được khôi phục bằng cách sử dụng những kỹ thuật khôi phục mới, bao gồm chuyển đổi trực tiếp lớp đất bề mặt để kích thích sự nẩy mầm trở lại của thực vật bản địa.

Trong năm 2005, Chính quyền bang Victoria công nhận thành công của chương trình khôi phục mỏ Anglesea, trao phần thưởng Strzelecki cho thành công phát triển bền vững này. Chương trình Tây Úc được Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc và Hiệp hội quốc tế về khôi phục sinh thái công nhận là một trong những chương trình khôi phục sinh thái tốt nhất trên thế giới.

3.4 Camkết với cộng đồng địa phương ở tỉnh Mondulkiri, Campuchia

Trong tháng 9 - 2006, BHP Billiton và Mitsubishi Corporation ký một thoả thuận thăm dò khoáng sản với Chính phủ Hoàng gia Campuchia. Thoả thuận cho phép thăm dò bauxit và đánh giá tiềm năng để xây dựng một nhà máy luyện alumin ở nước này.

Camkết trách nhiệm chủ yếu của nhà máy đầu tư là hỗ trợ cộng đồng địa phương về y tế, an toàn và môi trường. Camkết này được thực hiện theo chuẩn mực quốc tế, kết hợp với các luật pháp và tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Thực sự thì ở đất nước này còn thiếu nhiều các quy định luật pháp hoặc những quy định đã có còn thiếu tính chặt chẽ.

Campuchia là thách thức lớn đối với BHP Billiton bởi đất này nước đã trải qua cuộc chiến tranh thảm khốc và nạn diệt chủng kéo dài nhiều thập kỷ. Mondulkiri là tỉnh lớn nhất và dân cư phân tán nhất của Campuchia. Dân cư gồm nhiều thành phần, bị bom đạn nhiều trong cuộc chiến tranh Việt Nam và bắt buộc phải di tản trong thời gian Khơ Me Đỏ cầm quyền. Những vấn đề này đã ảnh hưởng đến phát triển của tỉnh và làm cho người dân càng nghèo khó.

Trước khi tiến hành thăm dò, một đánh giá tác động xã hội và môi trường thực hiện có tham khảo ý kiến của cộng đồng địa phương, chính quyền và các tổ chức chính phủ. Bản nghiên cứu tập trung vào các nội dung y tế, an toàn và môi trường mà cộng đồng đang đối mặt ở tỉnh này và BHP Billiton có thể làm tốt nhất như thế nào trong khi hạn chế được các tác động. Xác định được những thách thức như sau:

- Giảm thiểu rủi ro do bom mìn của chiến tranh để lại. Các nhóm chuyên gia tháo gỡ mìn phải, giáo dục và nâng cao nhận thức về nguy hiểm do nổ bom mìn cho cộng đồng;

- Tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế địa phương đối với cộng đồng nghèo, coi đây là một phần của chương tình bền vững nhằm đáp ứng yêu cầu y tế;

- Hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ trong việc thực hiện chương trình giáo dục và huấn luyện về y tế, quản lý tài nguyên và nông nghiệp bền vững;

- Đem lại công ăn việc làm và huấn luyện tay nghề cho dân địa phương.

Dự án tiến hành đánh giá tác động môi trường và xã hội, bắt đầu tuyển người địa phương để huấn luyện. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Năng lượng và Mỏ (MIME), Bộ này cử các nhà địa chất công tác tại hiện trường và với Trung tâm Khai Mỏ Campuchia (CMAC) nhằm giảm các rủi ro đến mức tối thiểu.

Cùng với cộng đồng triển khai 3 dự án chủ yếu:

- Hỗ trợ tháo gỡ bom mìn để làm giảm rủi ro và tổ chức đào tạo cho cả người ở trong và ngoài khu vực dự án ở tỉnh Mondulkiri. Trước đây, người địa phương tìm cách tháo gỡ bom mìn chưa nổ để đưa ra khỏi cộng đồng hoặc bán phế liệu, nghề nguy hiểm này đã dẫn tới những tai nạn nghiêm trọng. Tập huấn cảnh giới bom mìn của CMAC bao gồm loại trừ và tháo gỡ những bộ phận nguy hiểm đã làm rủi ro và nâng cao tính an toàn cho cộng đồng;

- Hỗ trợ cộng đồng tiếp cận với y tế thông qua giáo dục và phát triển ý thức làm chủ thông qua tổ chức Health Net International giúp nâng cao chăm sóc sức khoẻ đối với người dân, nâng cấp các trạm y tế vùng sâu, đào tạo đội ngũ y tế địa phương, cung cấp các thiết bị để tiếp cận và làm việc với các bộ tộc tiểu số vùng sâu;

- Bộ Giáo dục Campuchia chọn 139 trẻ em kém phát triển và mồ côi cho tham gia một dự án giáo dục, dự án này nhằm hướng cho các em tới một tương lai trở thành những thành viên của gia đình và cộng đồng ở tỉnh Mondulkiru;

- Với sự hỗ trợ tài chính cho Bunong Cultural Center, giúp đỡ các sinh viên, giáo viên, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương tiếp cận với một phòng máy tính, internet và thiết bị phục vụ hội họp và thiết bị cho lớp học. Các sinh viên học tại trường công nhưng sống tại ký túc xá của Village Focus International Dormitory. Nhà đầu tư giúp lương thực, tiện nghi, máy tính xách tay, nối mạng internet và thuê giáo viên cho các khoá học riêng.

Thông qua Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch làm việc ở Campuchia để nâng cao dân trí, cung cấp nước sạch cho cộng đồng. Tập trung cung cấp thiết bị lọc nước an toàn, huấn luyện và cung cấp thiết bị lọc nước cho các gia đình và thông qua mạng lưới Hội Chữ thập đỏ để đào tạo tình nguyện viên, cùng tổ chức đào tạo y tế.

3.5 Nuôi dê trên mảnh đất đã khôi phục sau khi khai thác bauxit

Viện Bauxite Jamaica và Viện Inter – American về Hợp tác Nông nghiệp cùng hợp tác trong một dự án 5 năm phát triển nuôi dê thịt trị giá 3,3 triệu USD trên mảnh đất đã được khôi phục sau khi khai thác bauxit ở Mocho, Clarendon, Jamaca.

Mục tiêu của dự án là thúc đẩy ngành nông nghiệp được coi là một tiêu chí cho phát triển bền vững và đào tạo kỹ năng cần thiết để tạo ra nguồn thu nhập cho cư dân ở Mocho bởi vì công ty nhôm Jamalco đã từng hoạt động khai thác trong tháng 11 – 2003. Dê là nguồn cung cấp thịt quan trọng ở Jamaca, và phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu. Mỗi năm nước này nhập khoảng 4.500 tấn thịt dê trị giá 4 triệu USD. Nông dân được học cách chăn nuôi động vật và quay vòng đàn gia súc. Trong một cố gắng đảm bảo tính liên tục, những kiến thức thu được được chuyển rộng rãi tới cộng đồng thông qua các trường học, nơi mà các sinh viên học cách chăn nuôi gia súc hiện đại.

Bắt đầu từ 2001, dự án nuôi dê bao gồm 11 nông dân, 154 con dê và 15 ha đất đã được khôi phục. Sau đó thu hút thêm 34 nông dân trong năm 2005 khi mà dự án được chuyển giao cho cộng đồng tự điều hành để giúp cư dân duy trì hoạt động dưới hình thức hợp tác xã. Dự án này không chỉ cung cấp thịt mà còn sữa và phó mát dê cho cư dân.

3.6 Mỏ than Cerrejon, Canada

Công ty than Cerejon của 3 công ty Anglo American, Xstrata Coal và BHP Billiton ở vùng Đông Bắc Columbia sử dụng hơn 5.000 lao động khai thác than nhiệt trị cao. Trong năm 2007, mỏ Cerrejon đã nộp thuế 180 triệu USD cho bang Colombia cùng với khoản tiền thuế thuê mỏ là 130 triệu USD. Tháng 7 - 2007, Công ty này được thông báo rằng OECD nhận được một đơn kiện về việc mỏ than này vi phạm hướng dẫn của OECD đối với công ty quốc gia. OECD yêu cầu có được một đánh giá xã hội độc lập về những cam kết xã hội hiện tại và trước đây của mỏ và những vấn đề xã hội trước khi tiến hành đánh giá.

Diễn đàn để đánh giá độc lập được thành lập, được sự hỗ trợ bởi Social Capital Group của Peru trong công việc nghiên cứu và đã tiến hành công việc một cách khẩn trương với các cộng đồng địa phương và các thành viên quốc tế. Báo cáo đưa ra một số những lĩnh vực đã làm tốt ở Mỏ Cerrejón, bao gồm:

- Đóng góp cho nền kinh tế quốc gia và địa phương;

- Những cam kết của mỏ về việc đóng góp cho phát triển bền vững của cộng đồng địa phương;

- Chương trình đào tạo về quyền con người cho người lao động, đại diện quân đội và công an;

- Mục tiêu nâng cao tiêu chuẩn điều hành trong lĩnh vực khai khoáng.

Báo cáo cũng xác định những lĩnh vực mà mỏ có thể phát huy hơn nữa công tác xã hội 11 – 4 – 2008, Cerrejon đã chuyển cho OECD Bản báo cáo đầy đủ với diễn giải tổng thể về chính sách, trách nhiệm xã hội của mỏ, một tổng quan những khuyến nghị và nhìn nhận của Diễn đàn và mô tả những hành động của mỏ cam kết thực hiện.

3. 7 Đóng góp cho chương trình xã hội thông qua Quỹ khai khoáng Anymana

Tháng 12 – 2006, Chính phủ Peru và ngành khai khoáng nước này thiết lập một chương trình đóng góp chung 5 năm, nhằm mục đích tăng cường sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp cho các chương trình xã hội ở những vùng nghèo khó nhất bằng hoạt động khai khoáng.

Công ty Mỏ Antaimina trở thành công ty đầu tiên ký một thoả thuận riêng biệt với chính quyền. Công ty đóng góp 3% lợi nhuận trước thuế vào Quỹ Khai khoáng Anymana. Với số tiền đóng góp ban đầu hơn 64 triệu USD, chiếm tới 40% tổng đóng góp của ngành khai khoáng giúp Quỹ hoạt động.

Công ty Antaimina sản xuất tinh quặng đồng và kẽm bằng công nghệ lộ thiên ở vùng Andes, tỉnh Huari, vùng Ancash, cách thủ đô Lima khoảng 270 km về phía Bắc. Tháng 2 - 2007, Antimana lập các uỷ ban đóng ở tỉnh Huaraz để tiếp nhận thông tin và đưa ra những khuyến nghị liên quan đến các dự án và chương trình được thực hiện bằng nguồn tiền từ Quỹ này. Năm 2007, Quỹ đã hỗ trợ chương trình y tế và dinh dưỡng một số sau đây:

- Chương trình Ally Micuy giúp cắt giảm suy dinh dưỡng thường xuyên của trẻ em, phòng ngừa các vấn đề y tế và khuyến khích chăm sóc sức khoẻ trong vùng Ancash, mỗi năm đầu tư hơn 8 triệu USD.

- Chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em giúp giảm thiểu tử vong bằng cách tăng cường dịch vụ cấp cứu và sinh nở. Chương trình nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ban đầu với việc đánh giá nhu cầu hạ tầng cơ sở y tế.

- Chương trình cao Giáo dục: Một nguyên nhân khiến cho các học sinh yếu kém là thiếu thiết bị và đồ dùng dạy học. Quỹ đã cung cấp bàn học, bàn giáo viên, thư viện, sửa chữa trường học.

- Chương trình nâng cao tay nghề: Quỹ hỗ trợ tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập bằng cách tăng cường số nhân lực hiện có và tạo ra số mới, kinh doanh thúc đẩy buôn bán và sản xuất, hỗ trợ sản xuất địa phương với thị trường toàn quốc và quốc tế;

- Tăng cường công tác quản lý: Lĩnh vực thứ 4 mà Quỹ đầu tư là các chương trình tăng cường quản lý địa phương và giúp trang bị cho họ thu được những lợi ích từ ngành công nghiệp khoáng sản Peru mà Quỹ đầu tư vào việc thiết lập các đơn vị quản lý thành phố để cung cấp tư vấn kỹ thuật cho chính quyền huyện và tỉnh, hỗ trợ việc ứng dụng đối với Quỹ đầu tư ngành khai khoáng Peru, nâng cấp trình độ quản lý cho các viên chức thành phố,lên kế hoạch phát triển vùng và cấp tài chính các dự án sản xuất và xã hội.

Tài liệu tham khảo

1. Toward Sustainable Mining, MAC, 24 - 9 - 2007.

2. Miningand Community Expectations, MAC, 10 - 3 - 2003.

3. Alcoa’s, Xstrata’s and BHP Billiton’s Case studies, 2003 - 2008.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.