Kết quả bước đầu nghiên cứu đánh giá tác động biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp Việt Nam
Theo báo cáo đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc Ngân hàng thế giới, Việt Nam với bờ biển dài và 2 đồng bằng châu thổ có cao độ thấp là một trong 5 quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do BĐKH. Ước tính, hàng chục triệu người Việt Nam có thể bị mất nhà cửa nếu nước biển dâng cao; sản lượng lương thực có nguy cơ giảm sút, đe doạ tới an ninh lương thực. |
Đánh giá tác động BĐKH đối với nông nghiệp Việt Nam
![]() |
Các phân tích, đánh giá tác động của BĐKH được xây dựng dựa trên cơ sở 2 kịch bản BĐKH: Kịch bản 1 (bảng 1) đã được phân tích và đánh giá trong Thông báo quốc gia đầu tiên của Việt Nam; kịch bản 2(bảng 2) là căn cứ kịch bản của SRES - A2, trong đó đánh giá khả năng ấm lên, nhiệt độ tăng cao hơn so với kịch bản 1.
![]() |
Tác động của BĐKH đối với sinh trưởng của cây trồng và sản xuất nông nghiệp
Tác động của BĐKH đối với sinh trưởng của cây trồng:Khi nhiệt độ tăng lên sẽ làm tăng tốc độ sinh trưởng phát dụccủa cây trồng, thể hiện ở thời gian sinh trưởng của cây trồng sẽ rút ngắn hơn so với hiện tại. Các nghiên cứu của Lê Quang Huỳnh và CTV cho thấy, nhiệt độ tăng cao sẽ rút ngắn các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Với nhiệt độ tăng thêm 10°C, thời gian sinh trưởng của cây lúa từ khi gieo mạ đến thu hoạch sẽ có thể rút ngắn từ 5 đến 8 ngày. Đối với khoai tây và đậu tương, các nghiên cứu cũng cho kết luận tương tự.
BĐKH và nhu cầu dùng nước:Theo các kịch bản BĐKH, nhìn chung lượng mưa ít thay đổi hoặc ít tăng lên trong cácthập kỷ tới, một số nơi có xu hướng giảm. Trong đó, lượng bốc thoát hơi nước của cây trồng lại tăng lên rõ rệt (lượng bốc hơi mỗi năm tăng lên 5-8% (kịch bản 1) và 15-20% (kịch bản 2); thiếu nước và hạn hán đều có xu hướng tăng và ngày càng trở nên trầm trọng hơn.
Tác động của BĐKH đối với sâu bệnh:Nhiệt độ, độ ẩm, hoàn lưu khí quyển... là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếpđến sự phát triển, phân bố và lây lan của sâu bệnh hại cây trồng. Theo các kịch bản BĐKH thì sự phân bố của các loại sâu bệnh sẽ thay đổi theo mùa/vụ, cũng như sẽ thay đổi theo điều kiện khí hậu. Nói chung, nhiệt độ tăng cao là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các loại sâu bệnh hại cây trồng, ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng.
Tác động của BĐKH đến thời vụ gieo trồng:Theo các kịch bản BĐKH, nhiệt độ trong mùa đông sẽ không còn lạnh nhưhiện nay, thời gian bắt đầu nhiệt độ xuống dưới 200C sẽ muộn hơn hiện nay khoảng 5-8 ngày (2050) và 7-20 ngày (2070). Căn cứ vào điều kiện nhiệt độ nói trên, thời vụ lúa xuân ở Bắc Bộ sẽ phải gieo trồng sớm hơn từ 5 đến 20 ngày, thời vụ cấy lúa mùa có thể muộn hơn từ 20 đến 25 ngày so với hiện nay.
Tác động của nước biển dâng:Với mực nước biển dự báo sẽ dâng cao thêm gần 1 m vào cuối thế kỷ này, diện tích nằmdưới mực nước biển ở Đồng bằng sông Hồng có thể lên tới trên 290.000 ha (chiếm gần 30% tổng diện tích); ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long dự tính khoảng 1,5-2 triệu ha (chiếm 40-50% diện tích toàn châu thổ); diện tích bị nhiễm mặn lớn, tới 2,2-2,9 triệu ha. Khi đó, nếu không có biện pháp hữu hiệu ngăn nước biển tràn vào, diện tích đất canh tác nông nghiệp trên cả nước sẽ thu hẹp đáng kể. Sản lượng lúa hàng năm có thể bị mất tới trên chục triệu tấn.
![]() |
Tác động của BĐKH đối với năng suất cây trồng và vật nuôi
Đối với trồng trọt: Sử dụng mô hình động thái thực nghiệm của Monssi-sack do Budagopski cải tiến (1986), chúng ta cóthể xác định được năng suất của các cây trồng chính như lúa, ngô theo các kịch bản BĐKH. Từ tính toán cho thấy, với tác động của BĐKH, năng suất lúa của 2 vụ (xuân và mùa) đều có xu hướng giảm (giảm nhiều nhất là khu vực Bắc Bộ, năm 2050, năng suất lúa xuân tại Hà Nội giảm 6%, năm 2070 giảm 23%; Trung Bộ và Nam Bộ năng suất đều giảm là 10% vào năm 2050 và 15% vào năm 2070). Trong đó, năng suất lúa mùa lại giảm ít hơn so với lúa xuân, ở cả 3 vùng đều giảm khoảng 3-5% vào năm 2050 và khoảng 7-9% vào năm 2070. Năng suất ngô vụ đông lại có sự khác biệt giữa Bắc, Trung và Nam Bộ; năng suất ngô vụ đông của Bắc Bộ có xu hướng tăng; trong khi đó tại Trung và Nam Bộ đều có xu hướng giảm, khoảng 4-9% năm 2050 và 7-17% năm 2070.
Đối với chăn nuôi:Thức ăn chăn nuôi phần lớn được tạo ra từ sản phẩm cây trồng nông nghiệp như lúa, ngô, khoai, đậutương. Phần lớn, sản lượng cây trồng sẽ bị sút giảm do BĐKH, gây khó khăn cho việc tạo nguồn thức ăn cho gia súc. Không những thế, giá thức ăn chăn nuôi cũng sẽ bị nâng cao, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm chăn nuôi. Như vậy, BĐKH sẽ gây ra sự giảm sút việc cung cấp thức ăn chăn nuôi cho đàn gia súc. Bên cạnh đó, với sự tăng cao của nhiệt độ, nhiều loại gia súc, gia cầm cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình sinh trưởng và phát triển mà nguyên do là chưa thích ứng được với những biến đổi của điều kiện ngoại cảnh. Ngoài ra, khí hậu nóng lên sẽ làm gia tăng thiên tai như bão, lụt... cũng có thể làm tăng tai nạn, đe doạ chu trình sống, sự sinh trưởng và sinh sản của đàn gia súc, gia cầm. Một số bệnh như lở mồm, long móng, nhiệt thán, tụ huyết trùng, dịch tả có nguy cơ bùng phát với tần suất lớn hơn.
Các biện pháp ứng phó với BĐKH
Trên cơ sở đánh giá tác động của BĐKH đối với nông nghiệp, có thể đề ra các biện pháp thích ứng và phòng tránh hữu hiệu. Trước đây cũng có một số phân tích đề xuất tập trung vào việc cải tạo điều kiện tự nhiên là chính, song cần lưu ý là các biện pháp cải tạo tự nhiên thường rất tốn kém và ít mang lại hiệu quả. Do đó, chúng ta nên tập trung nghiên cứu các biện pháp thích nghi và thích ứng của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với phòng chống và cải tạo tự nhiên. Các biện pháp cụ thể bao gồm:
Xây dựng lại kế hoạch và chiến lược phát triển nông nghiệp của từng vùng cho phù hợp với sự BĐKH
Cơ cấu và hệ thống cây trồng, vật nuôi cần được tổ chức, xắp xếp lại. Với ảnh hưởng của BĐKH, mùa đông sẽ ấm lên, mùa sinh trưởng của cây trồng nhiệt đới sẽ kéo dài, cây trồng nhiệt đới sẽ tiến lên các đới cao hơn hiện nay từ 300 đến 500 m. Hiển nhiên, các cây ôn đới trồng trong mùa đông ở Bắc Bộ sẽ gặp nhiều khó khăn, thời gian sinh trưởng sẽ ngắn hơn. Ngược lại, các cây trồng nhiệt đới sẽ tiến dần lên phía Bắc như cao su, cà phê, hồ tiêu...; thời gian sinh trưởng sẽ kéo dài. Do đó, thời vụ gieo trồng cũng sẽ phải được nghiên cứu, sắp xếp lại cho phù hợp với điều kiện khí hậu ấm lên. Trước hết là thời vụ gieo trồng lúa: Lúa xuân ở Bắc Bộ cần được gieo trồng sớm hơn, trong khi đó, thời vụ lúa mùa có thể muộn hơn. Trong khoảng thời gian giữa 2 vụ lúa, việc trồng 1-2 loại cây trồng ưa nhiệt cần được xem xét và sắp xếp cho phù hợp.
Phát triển quản lý nguồn nước và các biện pháp tưới
Thiếu nước và hạn hán có khả năng gia tăng do hệ quả của BĐKH. Mặt khác, lượng bốc thoát hơi nước tiềm năng do khí hậu ấm lên cũng đã được phân tích (lượng bốc thoát hơi có thể tăng lên 15-20% vào năm 2070). Do vậy, cần chú trọng đến việc bảo đảm nước cho cây trồng trong điều kiện BĐKH bằng các biện pháp cụ thể:
- Xây dựng các hồ chứa nước để có thể tăng cường dòng chảy mùa kiệt cung cấp nước tưới cho cây trồng trong mùa khô hạn.
- Quản lý chặt chẽ và tiết kiệm nước tưới cho cây trồng, hoàn chỉnh hệ thống tưới tiêu để giảm lượng nước thất thoát, rò rỉ. Đồng thời, nghiên cứu các công nghệ tưới tiêu khoa học vừa tiết kiệm nước, vừa nâng cao năng suất cây trồng.
Phát triển và chọn tạo các giống cây trồng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt, bảo tồn các giống cây trồng địa phương, thành lập ngân hàng giống
Công tác giống cây trồng cần đi trước một bước, cần chọn tạo các giống cây trồng chịu hạn, chịu chua mặn và có khả năng phòng chống cao hơn đối với sâu bệnh. Để có thể thực hiện công việc này, cần thành lập một ngân hàng gen để lưu giữ, bảo tồn các dòng gen quý hiếm của cây trồng bản địa vốn có khả năng thích nghi cao hơn với điều kiện ngoại cảnh.
Xây dựng và phát triển các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, phù hợp với BĐKH
Các biện pháp kỹ thuật canh tác từ khi gieo trồng đến thu hoạch, các biện pháp chăm sóc, làm cỏ, bón phân, quản lý nước, phòng trừ sâu bệnh... cần được nghiên cứu để phù hợp với điều kiện BĐKH.
Các biện pháp thích ứng với BĐKH trong chăn nuôi gia súc
- Phát triển mạnh các trang trại chăn nuôi: Một thực tế cho thấy, khi tập trung số lượng vật nuôi ở mức vừa đủ trong một trang trại sẽ tạo điều kiện quản lý vật nuôi, trang trại, thực hiện các quy trình kỹ thuật thích hợp. Việc cung cấp thức ăn, nước uống sẽ tốt hơn, tạo điều kiện cho gia súc thích ứng tốt hơn với các điều kiện của BĐKH.
- Tăng cường việc sản xuất, chế biến, sử dụng thức ăn chăn nuôi: Thức ăn có liên quan chặt chẽ với năng suất sinh học, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Nếu vật nuôi được ăn nhiều thức ăn chế biến, có sự hài hoà về chất dinh dưỡng sẽ tăng khả năng thích ứng với môi trường, đồng thời còn tăng khả năng kháng bệnh và giảm các chất thải ra môi trường.
- Đẩy mạnh công tác chọn giống: Cần chọn lựa được tập đoàn giống, nhóm giống có năng suất sinh học cao vừa thích nghi với điều kiện từng vùng sinh thái, vừa có tính kháng bệnh cao.
Kết luận
BĐKH mà tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu với những tác động của nó tới sản xuất nông nghiệp đang được nhiều quốc gia tiến hành nghiên cứu, đánh giá. BĐKH ở Việt Nam là một bộ phận của BĐKH toàn cầu. Bên cạnh đó, ở Việt Nam còn thể hiện tính bất ổn định riêng của một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiều thiên tai như lũ lụt, hạn hán... Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh, mạnh về kinh tế, BĐKH chắc chắn sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng. Những nghiên cứu đánh giá về tác động của BĐKH đối với nông nghiệp Việt Nam nêu trên mới chỉ là bước đầu, cần được Nhà nước tiếp tục đầu tư nghiên cứu.
------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Văn Hải, 1992: Những tác động của BĐKH đến các hệ sinh thái của Việt Nam. Báo cáo Hội thảo khu vực về BĐKH và tác động của chúngđến môi trường sinh thái ở Đông Nam châu á. Hà Nội 16-17/XI/1992.
2. Phan Nguyên Hồng, 1992: Tác động của BĐKH đối với rừng ngập mặn và hải sản. Báo cáo Hội thảo khu vực về BĐKH và tác động của chúng đếnmôi trường sinh thái ở Đông Nam châu á. Hà Nội 16-17/XI/1992.
3. Trần Việt Liễn, 1995: Tác động của BĐKH và nước biển dâng đến vùng ven biển Việt Nam. Đề mục Đề tài cấp nhà nước KT.02.12. Tổng cục Khítượng Thuỷ văn.
4. Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, 1993: BĐKH ở Việt Nam. Báo cáo Hội thảo quốc gia về BĐKH và chiến lược ứng phó. Hà Nội XII/1993.
5. Viện Khí tượng Thuỷ văn, 2003: Thông báo quốc gia đầu tiên về BĐKH, Hà Nội.
6. Nguyễn Văn Viết, Nguyễn Văn Liêm, Ngô Tiền Giang, 2003: Nhận xét xu thế BĐKH và đề xuất chính sách ứng phó để phát triển nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng. Báo cáo Hội nghị khoa học Viện Khí tượng Thuỷ văn lầnthứ 8, Hà Nội.
7. Lê Quang Huỳnh và nnk, 1985: Điều kiện khí tượng nông nghiệp các cây trồng chính. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước 1984-1998. Viện Khítượng Thuỷ văn.
8. Nguyễn Thị Hồng Minh, Ngô Sỹ Giai và nnk, 2002. Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng nông nghiệp đối với các giống lúa Shán ưu 63, Shán ưu 99 ở các tỉnh phía Bắc. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ. Viện Khítượng Thuỷ văn.
9. Giukovski E.E, Búltnko Brounop T.M, 1992: Phân tích xác suất ảnh hưởng của BĐKH đến năng suất tiềm năng của hệ sinh thái nông nghiệp. NXB Khítượng Thuỷ văn Moscu - Nga (bản dịch).
10. The State Ministry of Environment of Indonesia, 1998: Vulnerability and Adaptation Assessments of Climate Change in Indonesia- Jakarta .
11. Pradeep Kurukulasuriya and Shane Rosenthal, 2003: Climate Change and Agriculture: A Review of Impacts and Adaptation, Yale University .
12. P.R. Skukla, Subodh K. Sharma, 2003: Climate Change and India : Vulnerability Assessment and Adaptation. Universities Press.

Theo báo cáo đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc Ngân hàng thế giới, Việt Nam với bờ biển dài và 2 đồng bằng châu thổ có cao độ thấp là một trong 5 quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do BĐKH. Ước tính, hàng chục triệu người Việt Nam có thể bị mất nhà cửa nếu nước biển dâng cao; sản lượng lương thực có nguy cơ giảm sút, đe doạ tới an ninh lương thực. 








