Kết hợp Đông y & Tây y còn nhiều thách thức
Để có một nền y tế phát triển đặc thù của Việt Nam, việc kết hợp 2 nền y học là một yêu cầu cấp bách và chính đáng, đã được nhà nước đề ra từ lâu trong những chính sách quốc gia về y tế. Tuy vậy, đến nay kết quả vẫn còn rất nghèo nàn vì nhiều lý do như nhân lực, phương pháp chẩn đoán và điều trị khác nhau, xuất phát từ những hệ thống lý luận khác nhau…
Vấn đề kết hợp trong chẩn đoán
Hệ thống chẩn đoán của y học hiện đại gồm lâm sàng (nhìn, sờ, gõ, nghe) và cận lâm sàng (xét nghiệm, chụp X quang, siêu âm, nội soi, CT Scanner, MRI…). Có những bệnh lý chỉ cần khám lâm sàng cũng có thể chẩn đoán chính xác, nhưng phần lớn đều cần làm thêm cận lâm sàng để chắc chắn hơn. Các phương pháp cận lâm sàng ngày càng được phát triển và đã phát huy thế mạnh không thể chối cãi trong việc xác định bệnh.
Trong khi đó, y học cổ truyền chủ yếu dựa vào khám lâm sàng để định bệnh gồm có vọng (nhìn), văn (nghe, ngửi), vấn (hỏi bệnh) và thiết (sờ, nắn, bắt mạch). Hệ thống chẩn đoán này mặc dù vẫn còn nguyên giá trị nhưng không phải ai cũng có thể lĩnh hội hết những tinh hoa của nó. Do đó, các thầy thuốc y học cổ truyền ngày càng dựa vào các phương pháp chẩn đoán y học hiện đại rồi đưa ra phép điều trị theo y học cổ truyền. Đây là một sự kết hợp khập khiễng vì có những bệnh lý theo y học hiện đại không thể tuỳ tiện diễn giải theo y học cổ truyền, do lẽ chúng vốn dĩ xuất phát từ những cơ sở lý luận khác nhau.
Chẩn đoán y học cổ truyền không đưa đến kết luận là một bệnh danh cụ thể mà chỉ là chứng trạng,do đó, các phương pháp điều trị đưa ra hoàn toàn dựa trên lý luận đó. Y học cổ truyền gọi đây là “ biện chứng luận trị”. Trong khi hầu hết các kết luận chẩn đoán của y học hiện đại đều là những bệnh lý có danh pháp rõ ràng.
Vấn đề kết hợp trong điều trị
Y học cổ truyền có thế mạnh trong việc điều trị các bệnh mạn tính, các chứng bệnh đau nhức, các loại bệnh lý chức năng (không có tổn thương thực thể)… Ngược lại, các bệnh nhiễm trùng nặng, các trường hợp hôn mê, các bệnh cấp cứu, hoặc có chỉ định điều trị bằng phẫu thuật, thủ thuật… thì phải được can thiệp bằng y học hiện đại. Từ đó, khuynh hướng hiện nay thường điều trị bằng các phương pháp y học hiện đại trong những bệnh lý cấp tính, cấp cứu, phẫu thuật… sau đó, áp dụng y học cổ truyền cho việc điều trị và chăm sóc các biến chứng, di chứng, bệnh diễn tiến mạn tính hoặc phục hồi sức khoẻ sau bệnh. Tuy rằng đây là một hướng đi đúng, ít nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế so với sự phát triển của y học và các hiểu biết mới về cơ chế sinh lý, bệnh lý.
Ví dụ, trước đây, người ta tin rằng có thể điều trị bệnh lý dạ dày - tá tràng hiệu quả chỉ bằng thuốc y học cổ truyền (với các dược liệu có tác dụng băng niêm mạc, chống tăng tiết axit…). Nhưng từ khi phát hiện ra vai trò gây bệnh của vi khuẩn Helicobacter pyloritrong bệnh lý này, WHO bắt buộc phải thay đổi phác đồ điều trị khi đưa thêm vào các loại kháng sinh bên cạnh các thuốc truyền thống.

Một kiểu điều trị kết hợp phổ biến hiện nay thường gặp trong các khoa y học cổ truyền trong bệnh viện đa khoa và ngay cả trong các bệnh viện y học cổ truyền và y học hiện đại trong cùng một toa. Cách kê toa này đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững nguyên tắc cơ bản là các thuốc trong cùng một toa không được làm giảm tác dụng của nhau, không làm tăng độc tố của thuốc kia, không gây ra tác dụng phụ… Vấn đề đặt ra là không phải thầy thuốc nào (ngay cả thầy thuốc y học cổ truyền) cũng am hiểu hết thành phần và tác dụng phụ của thuốc y học cổ truyền, nhất là thuốc thang (có nhiều loại dược liệu có thành phần hoá học khác nhau), nên khó có thể tránh được sự tương kỵ giữa thuốc y học cổ truyền và y học hiện đại, thậm chí gây ra những tác động xấu trên chính cơ thể bệnh lý. Các biến chứng thường gặp là suy gan, suy thận… 






