Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 20/06/2012 21:33 (GMT+7)

Hợp tác KH&CN: Từ thụ động sang chủ động

Đề án được Thủ tướng phê duyệt ngày 18/5/2012, nhằm mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước mạnh trong một số lĩnh vực KH&CN vào năm 2020, rút ngắn khoảng cách về trình độ KH&CN của nước ta với khu vực và thế giới. Nhân dịp này, tạp chí Tia Sáng đã phỏng vấn PGS.TS. Mai Hà về nội dung và khả năng triển khai Đề án.

PV: Xin ông cho biết bối cảnh ra đời của Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ?

Những thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ đã và đang tác động sâu sắc đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới. Thế giới với các nền văn hóa và truyền thống sản xuất đa dạng đang phát triển với những tốc độ khác nhau và đạt những thành quả ở những mức độ khác nhau.

Ta hãy xem, những yếu tố nào có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ phát triển:

Thứ nhất: Văn hóa vì sự phát triển là nền tảng cho phát triển;

Thứ hai: Môi trường phát triển cạnh tranh lành mạnh là yếu tố động lực - quyết định cho phát triển;

Thứ ba: Lao động sáng tạo và tri thức khoa học và công nghệ là công cụ đắc lực nhất cho phát triển.

Phát triển và mở rộng các quan hệ hợp tác về KH&CN

Việt Nam chúng ta đã ký kết các văn bản pháp lý về hợp tác KH&CN với khoảng 80 nước, vùng lãnh thổ (từ Bản ghi nhớ MOU cho tới các hiệp định hợp tác cấp Bộ và Chính phủ). Những Hiệp định hợp tác về KH&CN và các thỏa thuận quan trọng với các nước như: Đan Mạch, Pháp, Chi lê, Panama, Thụy Điển, Nga, New Zealand, Brazil, Lào, Hoa Kỳ, Uruguay…

Bộ KH&CN cũng đang cùng đối tác Australia hoàn tất những thủ tục cuối cùng cho việc ký kết hiệp định hợp tác về KH&CN trên cơ sở nâng cấp Bản ghi nhớ hợp tác ký giữa hai Chính phủ từ năm 1992.
Việc ký kết các hiệp định hợp tác cấp Chính phủ giữa Việt Nam và các đối tác tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động hợp tác giữa các đối tác của Việt Nam với các bên có liên quan. Đây cũng là minh chứng quan trọng cho việc phát triển về chiều sâu của việc hợp tác về KH&CN.

Trong mấy thập kỷ vừa qua, KH&CN Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, thực sự đóng góp to lớn vào thành công của sự nghiệp đổi mới, đã hoàn thành về cơ bản việc xây dựng nền tảng pháp lý cho hoạt động KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Đội ngũ nhân lực KH&CN nước ta cũng ngày càng tăng về số lượng, và về chất lượng, bước đầu có đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ khoa học của quốc gia. Song cũng có những thách thức không nhỏ đó là thiếu hụt nhân lực trình độ cao, thiếu cơ sở vững chắc cho môi trường cạnh tranh lành mạnh và bất cập về quản lý kinh tế vĩ mô.

Chính trong điều kiện đó, việc thông qua Đề án hội nhập quốc tế về KH&CN là để tạo những bước đột phá trong việc nâng cao tiềm lực KH&CN Việt Nam nói chung, trong đó có vấn đề nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới, vấn đề nhân lực trình độ cao và hiệu quả tổ chức thực hiện R&D tại Việt Nam.

Ông có thể điểm qua những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN trong giai đoạn hiện nay?

Cơ hội mở ra cho KH&CN Việt Nam là rất lớn, đó là chúng ta có thể: Tiếp cận nhanh và khách quan tới những tiến bộ KH&CN của thế giới,  tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao, mua bán công nghệ, và khai thác các nguồn lực từ nước ngoài (tài chính,  thông tin, nhân lực, cơ sở vật chất lỹ thuật KH&CN..) để  phát triển tiềm lực khoa học và đổi mới công nghệ trong nước; đồng thời có điều kiện để tiếp cận đa dạng tới các hình thức đào tạo tiên tiến để phát triển đội ngũ các nhà khoa học và cán bộ quản lý KH&CN.

Tuy nhiên, thách thức đối với KH&CN Việt Nam là không nhỏ, do tính hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam còn rất hạn chế, thể chế kinh tế thị trường đang được hình thành nhưng thiếu bài bản, dẫn đến việc vai trò của KH&CN được nhìn nhận khá hình thức và do vậy còn phải mất nhiều năm để kinh tế - xã hội cần đến KH&CN như điều kiện sống còn để phát triển; hệ thống chính sách tài chính và cơ sở hạ tầng đội ngũ cán bộ về KH&CN chưa đáp ứng với điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế.

Ông có thể cho biết ý nghĩa cơ bản của Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ?

Ý nghĩa cơ bản của Đề án hội nhập quốc tế về KH&CN là thay đổi tính thụ động thành chủ động trong hợp tác bình đẳng về KH&CN, đa dạng hóa và đa phương hóa hình thức hợp tác và phương thức đầu tư hiệu quả cùng có lợi, phát triển KH&CN theo chiều sâu, tranh thủ tối đa cơ hội tiếp cận công nghệ cao nhằm phát triển kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam.

Ông có thể nói cụ thể hơn về điều này.

Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN

Trong giai đoạn 2006 – 2010, Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp tốt với các đơn vị liên quan đề xuất, hoàn tất các thủ tục đưa vào kế hoạch thực hiện gần 200 nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo nghị định thư (NĐT), qua đó nhiều giải pháp KH&CN mang tính đột phá từ những cường quốc KH&CN như Hoa Kỳ, Nhật bản, Pháp, Đức, Úc, vv đã được chuyển giao về Việt Nam, nhiều tri thức mới về KH&CN đã được các nhà khoa học Việt Nam tiếp thu, ứng dụng và từng bước làm chủ được một số công nghệ tiên tiến, rút ngắn thời gian nghiên cứu trong nước phục vụ có hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh; đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiên cứu và quản lý của đội ngũ cán bộ KH&CN trong nước, tiếp cận trình độ quốc tế, góp phần nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, tăng cường cở sở vật chất cho một số cơ sở nghiên cứu - triển khai trong nước.

Hiện nay, ta đã xây dựng và mở rộng nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT với 20 nước trên thế giới với sự tham gia của hơn 20 Bộ, ngành và địa phương trong cả nước, hợp tác đi vào chiều sâu với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

Phương thức hợp tác quốc tế về KH&CN trong những thập kỷ trước đây cũng đi theo lộ trình gần tương tự như vậy, chúng ta đã chọn phương thức tương đối ‘thụ động’: chủ yếu là xin tài trợ, xin thiết bị, học hỏi, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, tham gia nghiên cứu tại nước bạn. Trong khi đó, việc tiến hành nghiên cứu chung, tìm kiếm công nghệ, chuyển giao công nghệ còn có những khoảng cách nhất định đó là vì năng lực KH&CN của Việt Nam còn hạn chế.

Hiện nay chúng ta đã và đang mở rộng các mối quan hệ thông qua việc ký kết các hiệp định/thỏa thuận hợp tác song phương, tích cực tham gia trong các diễn đàn hợp tác KH&CN đa phương (ASEAN, APEC, ASEM, UNESCO, …). Và ở góc độ nào đó, trong các mối quan hệ này đang có chiều hướng đổi từ chiều “thụ động” sang chiều “chủ động” hơn.

Cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh về năng lực KH&CN của các tổ chức KH&CN trong nước, sự hỗ trợ từ nhà nước thông qua các cơ chế khuyến khích cụ thể, và đặc biệt là xuất phát từ nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội Việt Nam, các hoạt động hợp tác và hội nhập KH&CN quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ có đổi mới theo hướng chủ động hơn: chủ động trong việc lựa chọn vấn đề hợp tác, lựa chọn đối tác, lĩnh vực ưu tiên và trách nhiệm đóng góp. Chúng ta đã chủ động hơn và bình đẳng hơn!

Để thực hiện được những mục tiêu của Đề án đã đề ra nhiều giải pháp thực hiện. Vậy theo ông đâu là những giải pháp chủ yếu?

Trên cơ sở nhận thức rõ thực trạng, thách thức và đặc biệt là xác định rõ mục tiêu của hội nhập KH&CN Việt Nam đến năm 2020, Đề án đã chỉ rõ một số nhóm nhiệm vụ và giải pháp, cụ thể như sau:

1. Đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình hợp tác nghiên cứu chung trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương, đa phương, khu vực, liên khu vực và quốc tế; thu hút các chuyên gia, nhà KH&CN Việt Nam ở nước ngoài; khuyến khích cán bộ KH&CN Việt Nam tham gia các chương trình nghiên cứu quốc tế; … qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, cán bộ quản lý theo hướng liên kết với các đối tác có tiềm lực mạnh về KH&CN.

2. Huy động có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho hoạt động hội nhập quốc tế về KH&CN từ nguồn ngân sách nhà nước, cũng như đa dạng hóa các nguồn huy động từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

3. Tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về KH&CN, qua việc khai thác hiệu quả mạng thông tin KH&CN VINAREN, và các mạng tri thức KH&CN lớn khác trên thế giới như GLORIAD, APAN, tăng cường hiệu quả hoạt động của mạng lưới đại diện KH&CN Việt Nam ở nước ngoài…;

4. Hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, trong đó mua sáng chế trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên; đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Việt Nam thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động tổ chức sự kiện KH&CN quy mô khu vực và thế giới, thành lập Trung tâm chuyển giao công nghệ ASEAN + 3, APEC tại Việt Nam; …

5. Đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Xin cảm ơn ông!

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.