Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 15/11/2006 23:01 (GMT+7)

“Hồi sinh” loài cá quý hiếm

Theo chủ nhiệm đề tài Nguyễn Đức Tuân (Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I), thì do ảnh hưởng của điều kiện môi trường bị suy thoái như nạn phá rừng, đắp đập, đào đãi vàng ở lòng sông, đặc biệt là ảnh hưởng của những đập thủy điện lớn chắn ngang các dòng sông làm mất bãi đẻ của cá, bên cạnh đó việc khai thác quá mức bằng những phương tiện hủy diệt như dùng xung điện, thuốc nổ, chất độc, ruốc cá và những phương tiện khai thác khác nên sản lượng cá lăng chấm đã giảm sút nghiêm trọng.

Công việc đầu tiên – theo ông Tuân – là đi mua cá bố mẹ từ sông Lô Gâm (Tuyên Quang), hồ chứa thủy điện Hòa Bình về nuôi trong ao nước tĩnh tại Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 1.

Qua các kết quả nghiên cứu từ năm 2002 đến nay cho thấy, loài cá này thích nghi tương đối tốt với môi trường nuôi ao, chúng sinh trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 58-142gr/tháng.

Cá lăng chấm có thể sinh trưởng trong môi trường ao nước tĩnh, nhưng đòi hỏi môi trường nước sạch, tránh nuôi nơi hồ ao tù đọng. Nên nuôi ở những vùng chủ động được nguồn nước cấp sạch, đặc biệt là những nơi có nước chảy thường xuyên vào ao. Có thể sử dụng thức ăn viên công nghiệp với hàm lượng protein và lipid cao để nuôi cá lăng chấm. Dùng kết hợp với cá tạp. Khi nuôi cá lăng chấm nên nuôi đơn, chỉ nên ghép thêm cá mè làm sạch nước.

Hiện nay, Viện NCNTTS1 đang tiến hành đề tài Nghiên cứu công nghệ nuôi thương phẩm cá lăng chấm với thời gian thực hiện từ tháng 1-2005 đến tháng 12-2007.

Trong năm 2004, với việc áp dụng kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ bằng thức ăn tươi sống, kéo dài thời gian bơm nước tạo dòng chảy và phun mưa nhân tạo trong ao đã thu được những kết quả rất khích lệ. Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục và tỷ lệ cá đẻ đạt trên 90%, tỷ lệ thụ tinh trung bình 76%, tỷ lệ nở trung bình 58%, kết quả này cao hơn đáng kể so với năm 2002 và 2003; đã bố trí các thí nghiệm ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống và tìm ra mật độ nuôi, loại thức ăn phù hợp. Năm 2003, thu được 7.800 cá bột, 5.000 cá giống. Năm 2004, thu được 194.000 cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá giống.

Đề tài cũng đã thử nghiệm nuôi cá thương phẩm bằng các loại thức ăn tươi sống, thức ăn chế biến có hàm lượng đạm thô dao động 35-40-45%. Kết quả cho thấy tốc độtăng trưởng của cá tăng dần khi cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm tăng dần và cao nhất khi cho ăn thức ăn tươi sống.

Nói về kỹ thuật sinh sản, ông Tuân cho biết, cá lăng chấm là loài có kích thước tương đối lớn, ham ăn mồi (là loài ăn thịt), sức sinh sản thấp nên nguy cơ suy giảm nguồn lợi tự nhiên dẫn tới tuyệt chủng là điều dễ xảy ra. Loại cá chọn lựa để sinh sản nhân tạo là cá đực  có trọng lượng trên 3kg (từ 4 tuổi trở lên), cá cái trên 2kg (từ 3 tuổi trở lên). 

Trong đó, khó khăn nhất là tuyến sinh dục của cá lăng dạng lược mảnh, không vuốt được tinh nên phải mổ cá đực để lấy tuyến sẹ thụ tinh cho trứng, sau đó sát trùng và khâu lại nuôi tiếp nhưng vẫn bảo đảm tỷ lệ sống của cá cái sau khi sinh sản khoảng 80%, cá đực khoảng 70-80%. Cá sinh sản nhân tạo cho chất lượng tốt.

Việc triển khai sinh sản nhân tạo cá lăng chấm hiện nay đang còn gặp một số khó khăn. Theo ông Tuân, công nghệ này mới, khá phức tạp, khác khá nhiều so với các đối tượng truyền thống khác như cá mè, trôi, trắm, chép từ kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, sinh sản nhân tạo, ương ấp trứng, ương cá bột,... và đòi hỏi phải có kỹ thuật viên lành nghề.

“Sức sinh sản cá thấp, tuổi thành thục muộn cũng là một khó khăn để phát triển nhanh đối tượng này. Bên cạnh đó, để áp dụng công nghệ mới đòi hỏi nơi tiếp nhận phải có đội ngũ kỹ thuật lành nghề về sinh sản nhân tạo, cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống cấp nước sạch đảm bảo” ông Tuân cho biết thêm.

Nguồn: Khoa học và phát triển; nhandan.com.vn 6/10/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.