Hồi lưu dạ dày - thực quản không điển hình
Dạng hô hấp: ho mãn tính, ho khan hay có dây; hen suyễn, viêm phế quản tái đi tái lại, bệnh phổi do hít ô nhiễm.
Dạng tai – mũi - họng và răng – hàm - mặt
Dấu hiệu miệng hầu:co siết, rát, cộm (“hột me chặn”) gây tằng hắng, cải thiện nhờ uống nước;
Dấu hiệu thanh quản:khó phát âm mạn, tức khàn tiếng là thường nhất, cả đến mất tiếng. Khám thanh quản: đôi khi bình thường; nếu có dấu hiệu viêm, chẩn đoán hồi lưu gần như đúng.
Co thắt thanh quản:viêm xoang mạn, đai tai hai bên, hoặc một bên (thường bên trái).
Đau ngực:dạng co siết, sau xương ức, đội lốt cơn đau thắt ngực, không dính dáng với gắng sức. Ở bệnh nhân trên 45 tuổi, hoặc có yếu tố nguy cơ, dứt khoát phải tổng kê đầy đủ về tim - mạch.
Chẩn đoán:Theo y văn: khó khăn.
Ở xứ người: đo pH thực quản liên tục 24/24.
Điều trị: Chủ yếu ức chế bơm proton*.
Theo y văn: có thể dùng liều cao: 2 – 3 viên/ ngày; lâu dài, cả đến 4 tháng; có tác giả dùng sáng hoặc chiều hay chia ra 3 lần trong ngày.
Thực tế ở ta: Người bệnh than phiền về những bực bội – khó chịu kể ở phần trên, “chữa hoài không dứt”.
Do chẩn đoán khó khăn, phân tử ức chế bơm proton không có chống chỉ định và rất ít trường hợp giao thoa, ta chỉ còn cách xử trí như sau: “Chẩn đoán phủ đầu, điều trị tấn công bao vây, dùng thời gian để gỡ rối”.
- Về hồi lưu dạ dày - thực quản:
Khuyên người bệnh kê cao nửa người phía trên lên 30cm khi nằm (đầu giường ngủ, dưới tấm lót nằm trên gỗ); bớt tư thế nằm ngửa, nằm nghiêng nhiều hơn, bên trái là ưu tiên (theo y văn: khá hiệu nghiệm).
“Thủ” một ức chế bơm proton, thứ rẻ tiền, dễ mua, vì cần dùng lâu dài: hoặc sáng, hoặc tối, hoặc trước bữa ăn chính, tuỳ lâm sàng.
- Viêm phế quản rõ rệt hay tiềm tàng:
Không dùng thuốc ho, bất kỳ loại gì.
Hai thuốc chính yếu là long đàm và kháng sinh đặc thù hệ hô hấp; thời gian tối thiểu: 14 ngày; (xưa nay thường thất bại, do dùng ngắn ngày).
- Về hen suyễn:
Mang bệnh từ lâu: Singulair 10:1 viên tối với Sérétide xịt 2 cái trước khi ngủ.
Gần đây, thỉnh thoảng có lên cơn: Ketotifène: Zaditen 1mg: 1 viên tối; Sérétide: xịt (như trên).
Thí dụ một đơn thuốc:
Sáng: 1 viên oméprazole (ức chế bơm proton), 1 viên céterizine (kháng histamin H1 không gây buồn ngủ: Virlix, Zyrtec…).
Tối: nếu có gốc hen suyễn: Singulair + serétide hay Kétotefène; bằng không: hoặc dời ức chế bơm proton lúc sáng và tối, hoặc thêm 1 viên (tuỳ lâm sàng).
Ban ngày: long đàm: bromhexine (bisolvon 8) và kháng sinh thích hợp: thí dụ: Xinnat, đúng liều (không dưới 14 ngày).
Sau 14 ngày: bỏ thuốc ban ngày.
Sau 1 tháng rưỡi: bỏ kháng sinh histamin H1.
Sau 3 tháng: thử bỏ ức chế bơm proton; vẫn giữ tư thế nằm. Nếu thất bại, đành phải giữ lâu dài.
Kinh nghiệm cho biết kết quả khả quan, giải toả phần nào lo âu: “chữa hoài không khỏi”.
* Bơm proton: Cơ chế theo đó tế bào niêm mạc dạ dày tiết ion H +để kết hợp với Cl -thành axit chlorhydric trong lòng dạ dày.
- Phân tử ức chế bơm proton đều có vĩ tố… prazole, có khá nhiều biệt dược; nên dùng thứ rẻ tiền, dễ mua.
- Theo y văn, hiệu năng không mong muốn của ức chế bơm proton rất hiếm, thường thoáng qua lúc bắt đầu điều trị: nôn (4%), đầy hơi (4%); ít gặp hơn nữa, nhức đầu, chóng mặt, tiêu chảy… Nếu có dị ứng ở da, phải ngưng sử dụng.








