Hồ Tùng Mậu - Một người nhạy bén với tình thế
Thân phụ của Hồ Bá Cự là Hồ Bá Kiện, sinh năm 1862, hiệu là Thiệu Tùng, là con trưởng của Hồ Bá Ôn. Ông là bạn tâm giao của Phan Bội Châu. Trong phong trào Đông du, Hồ Bá Kiện tích cực tham gia quyên tiền và tổ chức cho nhiều thanh niên xuất dương sang Nhật. Năm 1907, Hồ Bá Kiện bị bắt rồi bị đi đày tại nhà lao Lao Bảo (Quảng Trị). Năm 1915, Hồ Bá Kiện cùng một số bạn tù tổ chức cướp ngục và đã anh dũng hy sinh khi chống lại Pháp mang quân lên đàn áp.
Thân mẫu của Hồ Bá Cự là Phan Thị Liễu con gái Cử nhân Phan Duy Thanh, cùng người lành Quỳnh Đôi. Bà được bà con làng xóm rất kính trọng vì tấm lòng bao dung, nhân ái. Ông bà Hồ Bá Kiện và Phan Thị Liễu sinh được 4 người con. Hồ Bá Cự là con cả trong nhà, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của dòng máu anh hùng, tận trung, tận hiếu vì nước vì dân của ông nội và người cha thân yêu, Hồ Bá Cự sớm có lòng yêu nước thương dân sâu sắc.
Tháng 3 – 1920, Hồ Bá Cự rời Quỳnh Đôi với chí hướng đã định, để lại mẹ già, vợ trẻ, con thơ ở nhà với lời nhắn nhủ của một người trai đầy nghĩa khí “ con đi làm việc nước cũng là để báo hiếu với gia đình…”. Trước khi xuất dương, Hồ Bá Cự đổi tên thành Hồ Tùng Mậu. Tùnglà cây tùng, Mậulà tốt tươi, thịnh vượng… Việc đổi tên khi xuất dương đi làm cách mạng như một nguyện ước, một lời thề của những thanh niên yêu nước Nghệ - Tĩnh thời đó. Không chỉ Hồ Bá Cự đổi tên khi xuất dương, cùng với anh và sau anh còn có Lê Văn Phan đổi tên là Lê Hồng Sơn, Lê Huy Doãn đổi tên là Lê Hồng Phong, Phạm Thành Tích đổi tên là Phạm Hồng Thái… Bộ ba Tam Hồng Nghệ Tĩnhđã nổi tiếng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
Trong thế hệ những thanh niên yêu nước thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Tùng Mậu như người anh cả về tuổi tác, cả về kinh nghiệm hoạt động. Được tiếp xúc, học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm hoạt động, cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, những hoạt động cách mạng của Hồ Tùng Mậu càng năng động và có hiệu quả.
Trưa ngày 11 - 5 - 1925, mật thám Pháp bắt Phan Bội Châu ở ga Bắc Thượng Hải rồi bí mật đưa về Hà Nội giam tại nhà lao Hỏa Lò. Biết tin dữ, Hồ Tùng Mậu vội viết một bài báo ký tên Hồ Mộng Tống tố cáo âm mưu hãm hại cụ Phan của Pháp trên báo chí Trung Hoa, kêu gọi các nhân sĩ và các tổ chức tiến bộ lên tiếng bảo vệ nhà yêu nước Việt Nam Phan Bội Châu. “ Phan tiên sinh có tội gì nếu không phải tội yêu nước và cứu nước? Nhân danh Á Đông nhược tiểu dân tộc liên hiệp hội, chúng tôi lên tiếng tố cáo trước nhân dân thế giới nói chung và nhân dân Á Đông nói riêng, hãy vì công lý và nhân đạo, kịch liệt lên tiếng phản đối bọn thống trị Pháp ở Đông Dương về những hành động bắt người trái phép và đòi họ không được hành tội Phan tiên sinh…” (1).
Bài báo kịp thời của Hồ Tùng Mậu đã góp phần làm thất bại âm mưu của thực dân Pháp, là tiếng nói từ nước ngoài góp vào phong trào đấu tranh rộng lớn ở nhiều địa phương đòi thả Phan Bội Châu. Phong trào này đặc biệt sôi nổi trong giới thanh niên, học sinh. Qua phong trào này, nhiều thanh niên yêu nước đã trưởng thành thêm về nhận thức. Một làn sóng thoát ly, xuất dương tìm con đường cách mạng bắt đầu trong giới thanh niên yêu nước Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, sau phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu khởi xướng năm 1905 và chìm lắng nhanh chóng vào năm 1907. Đích tìm đến của những thanh niên yêu nước Việt Nam lúc này không phải là Nhật Bản mà là Quảng Châu - “Thủ đô cách mạng” ở Trung Quốc. Nơi đó có sức hấp dẫn của một con đường cứu nước mới, có những lớp huấn luyện cán bộ của Nguyễn Ái Quốc, có Hội Việt Nam cách mạng thanh niên vừa mới thành lập…
Mùa thu 1929, Hồ Tùng Mậu được trả tự do sau hơn một năm bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Khi đó sự phân liệt trong phong trào cách mạng Việt Nam đã rất sâu sắc. Các tổ chức cộng sản mới thành lập tranh giành ảnh hưởng của nhau, công kích nhau và đều tự nhận mình là cộng sản chân chính. Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn cố gắng cứu vãn tình thế phân liệt. Các bức thư của Lương - bí danh của Hồ Tùng Mậu - và Việt gửi các đồng chí Đông Dương cộng sản đảng còn lưu giữ được cho ta biết điều đó.
Thư đề ngày 12 - 9 - 1929 nêu nguyện vọng: “ nhanh chóng thành lập ở Đông Dương một Đảng cộng sản chân chính” … “ các chi bộ cộng sản phải tiến tới thống nhất và hình thành một đảng cộng sản chân chính…” (2). Bức thư ngày 29 - 9 - 1929 viết: “ … chúng tôi cũng không có tư tưởng bè phái, cũng không tự phụ cho mình là những người lãnh đạo… các đồng chí và chúng tôi ở đây đều tận tụy hiến thân cho cách mệnh. Vì vậy chúng ta phải hy sinh tất cả vì lợi ích cách mệnh. Nếu chúng ta không chú ý thành lập ngay một đảng cộng sản thống nhất thì sợ rằng chúng ta sẽ chia rẽ thành hai nhóm riêng biệt, nhóm ở Bắc và nhóm ở Nam. Khi mà hai Đảng cộng sản đã thành lập xong ở trong nước thì khó mà hợp nhất được. Lúc đó lẽ nào chúng ta lại nhờ Đệ tam quốc tế giải quyết cho vấn đề ấy? Chúng ta tự giải quyết lấy ngay có hơn không?” (3).
Tuy nhiên, những cố gắng của Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn chưa đạt kết quả. Từ Hương Cảng, hai đồng chí quyết định cử người (4) đi gặp Nguyễn Ai Quốc - khi đó đang bí mật hoạt động ở Xiêm - để báo cáo tình hình và xin chỉ thị. Nhận được tin báo, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời đến Hương Cảng từ tháng 12 - 1929 để triệu tập đại biểu các nhóm cộng sản trong nước họp Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.
Tháng 6 - 1931, cũng nhờ sự nhạy bén, kịp thời của Hồ Tùng Mậu báo cho các đồng chí của mình về việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt giam trái phép, chính quyền Anh ở Hồng Kông không thể thực hiện âm mưu câu kết với chính quyền Pháp ở Đông Dương bí mật dẫn độ Tống Văn Sơ – Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương. Lần thứ hai, thông tin kịp thời của Hồ Tùng Mậu đã góp phần làm thất bại kế hoạch đã chuẩn bị công phu của chính quyền thực dân Pháp.
Có thể nói, Hồ Tùng Mậu chính là người khởi đầu cho sự thất bại hai kế hoạch lớn của mật thám Pháp. Hai lần, sự nhạy bén của Hồ Tùng Mậu đã góp phần quan trọng đầu tiên cứu thoát hai lãnh tụ lớn nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX là Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc. Cũng bằng kinh nghiệm thực tiễn cách mạng đã dày dạn của mình, Hồ Tùng Mậu nhanh chóng nhận thấy mối nguy hiểm của sự phân liệt, chia rẽ giữa những người cách mạng đối với lợi ích chung của phong trào. Với tất cả sự nỗ lực của mình, đồng chí đã cố gắng hàn gắn sự chia rẽ đó. Những cố gắng của Hồ Tùng Mậu hoàn toàn tương đồng với quan điểm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc.
Sự nhạy bén đó chỉ có thể có được ở một chiến sĩ cách mạng đã có bề dày kinh nghiệm hoạt động trong những năm khó khăn của phong trào.
Chú thích
1. Nguyễn Quang Tố, 1974, Sài gòn,Sào Nam Phan Bội Châu - con người và thi văn, tr 97 - Dẫn lại theo Hoàng Thanh Đạm, Phan Hữu Thịnh, 1996, Nghệ An,.Đời ối đời vì nước, tr 133.
2. Ban nghiên cứu lịch sử đảng TƯ -Các tổ chức tiền thân của Đảng. Hà Nội 1977, tr 305.
3.Các tổ chức tiền thân của Đảng Sđd, tr 308.
4. Nhiều tài liệu nói người được cử về là Lê Duy Điếm, có tài liệu nói người được phái về là Cao Hoài Nghĩa.








