Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 17/08/2006 20:05 (GMT+7)

Hành trình của “Nhật ký trong tù”

Là người Việt Nam trong thời kỳ sóng gió đầy biến động, chúng ta đã không chỉ một lần đọc tập Nhật ký trong tùbằng thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Và qua hơn 100 bài thơ đã được phổ biến, cùng với những mẩu chuyện được nghe quanh các bài thơ ấy, mỗi chúng ta đều bồi hồi xúc động - cảm phục tinh thần của Người: một lòng kiên trinh, chung thuỷ với cách mạng, nhân ái với nhân dân, kiên định niềm tin tất thắng của dân tộc. Cuốn nhận ký được viết trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, khổ ải của lao tù và bị giải tới giải lui gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, trên chặng đường lên chân đi bộ hơn 400 dặm, ngoài những đoạn được đi thuyền hoặc xe lửa, kéo dài suốt chuỗi thời gian dài dặc gần 13 tháng đằng đẵng, giữa lúc cuộc chiến tranh chống phát xít trên toàn thế giới đang bước vào giai đoạn quyết liệt và phong trào giải phóng dân tộc trong nước đang dâng cao, rất cần bàn tay chèo lái của Người. Trong tình huống khẩn trương phức tạp và trong hoàn cảnh éo le không may như vậy, Người vẫn lạc quan, luôn tự xác định, tự rèn luyện tự động viên và suy ngẫm thế cuộc cùng những nước cờ sẽ phải đi. Chính ngay trong bài thơ “Mở đầu”. Người đã ung dung, thư thái, chủ động minh định:

Ngày dài ngâm ngợi cho khuây

Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do...

Bây giờ, chúng ta thử cùng nhau theo dõi hành trình của Nhật ký trong tù qua những địa danh ghi theo thứ tự trong những bài thơ, theo sơ đồ sau đây:

1. Bị bắt ở Túc Vinh (29-8-1942).

2. Vào nhà lao Tĩnh Tây.

3. Đêm ngủ ở Long Tuyền (trên đường đi Thiên Bảo).

4. Đến Thiên Bảo (10-10-1942).

5. Đến Quả Đức.

6. Đến Long An.

7. Đến Đồng Chính (2-11-1942).

8. Từ Đồng Chính đi thuyền đến Nam Ninh.

9. Từ Nam Ninh lại đi bộ sang Vũ Minh.

10. Rồi lại lê bộ đến Tân Dương rồi Lai Tân.

11. Từ Lai Tân đi xe lửa đến Liễu Châu (9-12-1942).

12. Từ Liễu Châu đi Quế Lâm và bị giam ở đây chừng 40 ngày.

13. Lại trở lại Liễu Châu (28-8-1943).

14. Và ngày 10-9-1943 được tự do.

Những địa danh kể trên nằm ở đâu? Có thể còn nhiều người chưa rõ. Tôi may mắn đã có dịp được đi lại từ Liễu Châu qua Nam Ninh, rồi lại tới Bách Sắc vào cuối năm 1944. Tiếp đó lại được theo Người về nước hồi tháng 3-1945, từ Bách Sắc qua Điền Đông, Thiên Bảo. Tĩnh Tây về Pắc Bó. Tôi xin kể tóm lược đôi nét về vùng đất này, mong góp phần minh hoạ thêm cho bối cảnh tập Nhật ký trong tù. Tất thảy những địa danh trên đều thuộc vùng Quế Tây - Trung Quốc, nằm trên lưu vực hai sông Hữu Giang và Tả Giang thuộc thượng nguồn sông Tây Giang, giáp Việt Nam.

Đây là một trong những vùng cư trú của dân tộc Choang - một dân tộc thiểu số đông nhất của Trung Quốc (hơn mười triệu người). Nhân dân dân tộc Choang có nhiều quan hệ với nhân dân các dân tộc nước ta, nhất là với đồng bào Tày - Nùng ở Việt Bắc. Họ có nhiều điểm gần giống nhau về tiếng nói, phong tục, tập quán và đặc điểm sinh hoạt. Có đôi nơi vùng biên giới, nhân dân hai bên còn quan hệ họ hàng, đi lại giúp đỡ lẫn nhau. Đặc biệt nhân dân Choang - Tày, Nùng có truyền thống đấu tranh chống cường quyền, áp bức. Trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và thực dân, người Choang và Tày - Nùng đã đoàn kết chặt chẽ với nhau để đánh thắng kẻ thù chung. Đáng chú ý nhất là thời Lý ở Việt Nam và thời Tống ở Trung Quốc, họ đã cùng nhau đứng lên chống ách thống trị của bọn quan lại, dưới sự lãnh đạo của Nùng Trí Cao và đã lập nên “Nam thiên quốc” (thế kỷ 11). Dọc đường từ Tĩnh Tây qua Điền Đông, Nam Ninh, nhiều cụ già người Choang vẫn còn ca ngợi sùng bái Nùng Trí Cao. Có nơi còn có đền thờ Nùng Trí Cao. Thế kỷ 18, trong phong trào Thái Bình thiên quốc do Hồng Tú Toàn lãnh đạo, nhân dân Choang cũng đã từng tham gia khởi nghĩa chống ách thống trị hà khắc của nhà Thanh.

Đặc biệt, thời kỳ chiến tranh cách mạng Trung Quốc lần thứ 2, nhân dân Choang vùng Tả Giang - Hữu Giang đã cùng nhân dân các dân tộc khác khởi nghĩa thành lập chính quyền Xô Viết trong hơn 10 huyện, có cả huyện biên giới Long Châu (Long Châu công xã). Trong thời kỳ trước năm 1949, mặc dầu bọn phong kiến, bọn phản động Quốc dân đảng và thực dân Đảng dùng đủ mọi mánh khoé để chia rẽ, nhưng chúng đã phí công vô ích. Nhân dân hai vùng biên giới càng thêm đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tích cực hơn. Khi bọn Quốc dân đảngr khủng bố, lùng bắt, nhiều cán bộ cộng sản ở vùng biên giới Trung Quốc đãn lánh sang vùng biên giới Việt Nam, được bà con Tày - Nùng và những cán bộ cộng sản Việt Nam ở cơ sở đùm bọc, che chở, giúp đỡ (như trường hợp Nông Kỳ Tuấn - tục gọi là “tài thầu” tức “to đầu”, Phan Toàn Trân, Lâm Phúc Tịnh v.v... sang vùng biên giới Tràng Định, Văn Lãng - Lạng Sơn). Ngược lại, khi bị thực dân Pháp khủng bố, lùng bắt, nhiều cán bộ đảng viên Việt Nam tạm lánh sang biên giới Trung Quốc, cũng được nhân dân Choang và cán bộ đảng viên Trung Quốc ở cở sở hết lòng che chở, giúp đỡ.

Những năm đầu 1940, phong trào chống phát xít Nhật nổi lên rầm rộ, nhân dân Việt Nam dấy lên phong trào ủng hộ nhân dân Trung Quốc kháng Nhật, và cùng đồng thời chuẩn bị chống phát xít Nhật chiếm Đông Dương, nên các mối liên hệ càng khăng khít. Được sự ủng hộ và giúp đỡ của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng ta đã chọn Tĩnh Tây lập một văn phòng Việt Minh công khai liên lạc với đương cục Quốc dân đảng ở biên giới và bí mật dùng thôn Nậm Quang thuộc Tĩnh Tây (gần biên giới Việt - Trung) mở lớp huấn luyện do Hồ Chủ tịch trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn. Đồng thời đoàn thể còn liên hệ với đương cục Trung Quốc mở lớp huấn luyện quân sự đặc biệt, theo tinh thần trường Hoàng Phố, cho cán bộ Việt Nam tại Điền Đông (trường này có Ngô Quốc Bình tức Hoàng Văn Thái, Tạ Quang tức Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Thanh Đồng, Đàm Quang Trung, Siêu Hải v.v...).

Khi đồng chí Lê Quảng Ba bảo vệ Hồ Chủ tịch sang đến Cot Mà, thuộc biên giới Trung Quốc, ngày 20-8-1942, đồng chí đã nhờ cơ sở Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đồng chí Dương Thao - một đảng viên người Choang địa phương dẫn đường và bảo vệ Hồ Chủ tịch tiếp tục cuộc hành trình công cán trên đất Trung Quốc. Và sự việc không may đã xảy ra như chúng ta được biết.

Như vậy, rõ ràng vùng đất mà bọ Quốc dân đảng Trung Quốc giam và giải Hồ Chủ tịch, là một vùng cách mạng, có truyền thống đấu tranh kiên cương, đã từng một thời là “Xô viết”, là “Công xã”; và cũng là vùng mà nhân dân hai bên biên giới có quan hệ thân thuộc, qua lại với nhau rất tốt. Tiếc rằng, vùng này vào thời đó, cực kỳ nghèo nàn, lạc hậu. Dân thường thiếu ăn và ăn ngô là chính. Ở nhà tranh vách đất. Trừ nơi gần sông, các nơi khác rất thiếu nước (uống nước ao, tắm giặt cũng nước ao...). Cho nên người tù vốn đã khổ, mà lại bị cùm xích giải đi trên vùng đất nghèo khổ, vào mùa đông giá rét, khô hạn, thì sự khổ ải đó càng tăng gấp bội.

Khi Hồ Chủ tịch bị nạn, thì đồng chí Dương Thao cũng bị bắt. Có bao nhiêu tiền, Hồ Chủ tịch đều dồn hết để cứu chữa cho đồng chí ấy. Song, cuối cùng đồng chí ấy đã hy sinh trong nhà tù tàn khốc, bẩn thỉu, thiếu nước của Quốc dân đảng. Kể lại tôi nghe xong câu chuyện trên, Hồ Chủ tịch đã ngậm ngùi kết luận:

“Mình giác ngộ hơn, hiểu và thấy rõ đích của mình hơn, nên bao nhiêu khó khăn, gian khổ, cũng có thể vượt qua được. Còn các đồng chí mới giác ngộ, chưa thấy rõ đích của mình, tinh thần chưa đủ kiên cường, dễ hoang mang dao động. Như vậy, sẽ chưa đủ sức để chịu đựng những thử thách gian nguy. Đồng chí ấy cần phải luôn luôn có một tình thương nồng ấm và sự chăm sóc chu đáo. Mình đã hết sức cố gắng, nhưng không làm sao cứu vãn được”.

Phải chăng, hình ảnh đó đã thể hiện thành như một bài “Tựa” được viết ngay vào trang bìa cuốn Nhật ký trong tù:

Thân thể tại ngục trung

Tinh thần tại ngục ngoại:

Dục thành đại sự nghiệp

Tinh thần cánh yếu đại.

Dịch thơ:

Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần phải càng cao!

Nguồn: Xưa & Nay, số 259, 5/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Đội ngũ trí thức đồng hành cùng báo chí cách mạng
Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu, hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và truyền thông khoa học, đội ngũ trí thức Đắk Lắk đã góp phần làm phong phú nội dung báo chí, lan tỏa tri thức, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.