Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 18/03/2008 00:42 (GMT+7)

GS.TS Hoàng Xuân Sính – Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam: “Chức danh giáo sư ở Việt Nam giống như một thứ huân chương!”

Ngày càng nhiều ông “quan” giáo sư

PV: Thời gian qua, dư luận và báo chí đã nhiều lần lên tiếng về thực trạng “biến công trình khoa học của người khác thành của mình” để xin phong giáo sư hoặc đạt được học vị tiến sĩ. Bà nghĩ sao về thực trạng này?

GS.TS Hoàng Xuân Sính: Trong khoa học, không bao giờ được phép thiếu trung thực. Nhất là những vị làm đến tiến sĩ, giáo sư càng không thể gian dối, bởi họ luôn là tấm gương để xã hội cũng như giới khoa học nhìn vào. Nếu anh gian dối, người ta sẽ dễ dàng vạch mặt anh ra thôi! Tuy nhiên, ở nước ta, nói thực là môi trường khoa học mới chỉ ở “buổi ban đầu thô sơ”.

Phải nói thực trạng trên xuất phát từ bệnh hiếu danh. Hiếu danh đều có trong mỗi con người, song đáng buồn là cơ chế của ta lại đang khuyến khích căn bệnh này.

Một phần vì chúng ta đang sống trong một xã hội quá coi trọng bằng cấp, học vị?

- Tôi cho rằng, có thể đó là dòng suy nghĩ bắt đầu từ những người lãnh đạo. Một khi ông lãnh đạo quá đề cao chức danh hay học vị, thì cấp dưới của họ sẽ giơ ngay bằng nọ, bằng kia để được đề bạt, thăng tiến nhanh hơn. Còn nếu người lãnh đạo cũng coi một anh giáo sư và một anh lao động bình thường đều có những năng lực và đóng góp ngang nhau trên mỗi cương vị, thì tôi nghĩ sẽ chẳng ai khoe chức danh giáo sư, tiến sĩ làm gì!

Điều đáng nói là không ít người vẫn trở thành giáo sư, tiến sĩ, trong khi những công trình mà họ “nghiên cứu” và công bố thực chất là công trình của người khác. Phải chăng các Hội đồng chức danh giáo sư, Hội đồng chấm luận án tiến sĩ của chúng ta đang “có vấn đề”?

- Điều này cũng dễ hiểu thôi. Vì ngay những người trong các Hội đồng cũng không có thì giờ đọc nhiều. Còn ở các nước công nghiệp, vì họ toàn tâm toàn ý vào công việc nghiên cứu và giảng dạy nên bất cứ một công trình nào ra đời thì họ đã đọc ngay rồi. Còn mình thì làm gì có thì giờ! Mà nhiều khi có những bài báo được công bố ở nước ngoài mình cũng không được biết tới để mà có ý kiến. Tôi phải nhắc lại là chúng ta đang ở “buổi ban đầu làm khoa học”.

Ở Việt Nam có Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước. Khi ai đó được phong giáo sư rồi thì nghiễm nhiên đó là một thứ chức sắc để giữ suốt đời. Có cảm tưởng chức danh giáo sư như một thứ gì đó để thưởng công, kiểu như một thứ huân chương. Còn ở nước ngoài, việc phong giáo sư gắn với công việc của một viện, một trường nào đó. Và đến khi về hưu thì hết, không còn giáo sư nữa.

Nói như vậy, phải chăng cách thức, quy trình xét tặng chức danh giáo sư hiện nay đang lộ rõ nhiều bất cập, thậm chí lạc hậu so với thế giới?

- Tôi chỉ muốn nói là việc phong giáo sư của ta là không thực chất. Vì chúng ta chỉ xét chức danh này như một thứ huân chương, có thể giữ được suốt đời dù không dạy học, không nghiên cứu. Ví dụ tôi làm Bộ trưởng chẳng hạn. Cả ngày tôi không lên lớp, cả ngày không vào phòng thí nghiệm mà lúc nào tôi cũng là giáo sư, tiến sĩ thì điều đó là vô lý!

Nhưng tôi đã nói, vì điều kiện làm việc khó khăn cho nên các thành viên trong Hội đồng 3 cấp không thể cập nhật được về chuyên ngành đó đã dẫn tới việc xem xét, đánh giá công trình khoa học vẫn có tính hời hợt. Thậm chí, “xét” mà không biết rõ người mình “xét”. Vì thế, nếu người ta có ăn cắp công trình của người khác thì mình cũng đâu có phát hiện được.

Nói thực, nếu buộc tất cả giáo sư đi dạy học, nghiên cứu thì chắc chắn sẽ nhiều người sẽ từ bỏ “giấc mơ” giáo sư, vì họ không có khả năng. Nhưng nếu nói, muốn làm Bộ trưởng phải có học hàm giáo sư thì nhiều người thích chức giáo sư ngay!

Gần đây, có quan điểm cho rằng nên giao chỉ tiêu về số lượng giáo sư về cho các trường, các viện nghiên cứu, thay vì Nhà nước lo chuyện này. Có nghĩa là tuỳ theo nhu cầu đào tạo, sử dụng, các trường, viện sẽ tự đưa ra số lượng giáo sư?

- Nếu muốn giao chỉ tiêu về cho các trường thì phải có môi trường khoa học thực thụ và các trường, các viện phải có sự cạnh tranh lành mạnh. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, mỗi trường, mỗi viện nghiên cứu sẽ xin đăng ký có bao nhiêu biên chế giáo sư. Ai có nhu cầu làm giáo sư thì xin ứng cử vào trường, viện nghiên cứu đó.

Nhưng điều này cũng đặt ra 2 vấn đề: Nếu trong một môi trường khoa học thực thụ và có sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường, các viện nghiên cứu thì không vấn đề gì. Nhưng nếu ngược lại sẽ dẫn tới chuyện nể nang, “trao đổi” giữa những người quen thân với nhau, giữa cấp trên với cấp dưới với nhau. Hiện nay, trong các Hội đồng 3 cấp cũng vẫn có những chuyện như thế. Đó chính là mặt trái!

Nên đặt quyết tâm đào tạo tiến sĩ cho mục đích nghiên cứu và giảng dạy

Bà đánh giá như thế nào về mục tiêu đào tạo 20.000 tiến sĩ đến năm 2020 của Bộ Giáo dục – Đào tạo?

- Tôi sợ rằng, mục tiêu này rất không khả thi và dễ dẫn đến hình thức. Tôi không biết bây giờ Bộ Giáo dục và Đào tạo có còn giữ ý định là sẽ đào tạo 10.000 tiến sĩ ở trong nước và 10.000 tiến sĩ ở nước ngoài nữa hay không. Nhưng theo tôi biết, hiện nay số người được gửi đi đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài vẫn chưa được 2.000. Các nước quen đào tạo chặt chẽ rồi. Bây giờ ta lại “tống” cho họ 10.000 người và bảo “đào tạo chặt chẽ thì họ không hình dung ra được. Bởi lẽ, họ chỉ có thể đào tạo được những người thực sự có khả năng nghiên cứu và xác định rõ mục đích của việc trở thành tiến sĩ”.

Tôi sợ rằng, chúng ta đang chạy theo số lượng. Năm 2006, tôi đi họp hội nghị ở Thuỵ Sĩ, nhiều Việt kiều “chất vấn” tôi tại sao giới khoa học trong nước không lên tiếng về mục tiêu rất thiếu khả thi đó. Tôi nói: “Khả thi hay không thì phải hỏi Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo của tôi chứ hỏi tôi thì có ích gì”!

Như vậy, theo quan điểm của bà, các giáo sư, tiến sĩ không nên tham gia vào lĩnh vực quản lý”!

- Bằng tiến sĩ và chức danh giáo sư chỉ cần thiết đối với một số ngành. Chẳng hạn như ngành giáo dục – đào tạo, nếu Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo là một giáo sư - tiến sĩ rồi thì có nghĩa họ đã dạy học, hướng dẫn nghiên cứu… Điều đó sẽ giúp ích cho họ trong quản lý, ví dụ như trong lĩnh vực đào tạo sau đại học. Nhưng nhìn chung, theo tôi, công tác quản lý không cần thiết phải có sự tham gia của các giáo sư, tiến sĩ. Chúng ta đang quan niệm sai về vấn đề sử dụng giáo sư, tiến sĩ nên đã hướng mọi người hùa theo cái đó. Do vậy, Bộ Giáo dục – Đào tạo nên đặt ra quyết tâm đào tào tiến sĩ để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy hơn là đưa họ vào bộ máy quản lý.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.