Giữ cân bằng phát triển đô thị lớn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái để đạt tới bền vững
Người ta thấy các đô thị nẩy sinh tích tụ dân cư và phát triển dọc theo các hành lang giao thông sắt, thủy, bộ... theo hướng phát triển của các cảng, sân bay, các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu du lịch..., theo lưu vực sông - kênh - rạch...
![]() |
Giải pháp cân bằng đã từng làm ở một số nước là đưa kiến trúc phong cảnh sinh thái (KPS) chiếm tỉ lệ thích đáng trong tổng thể quy hoạch phát triển đô thị. Theo thời gian, KPS sẽ tăng dần số lượng để cân bằng với sự phát triển nhanh đô thị lớn.
Khởi đầu phát triển mô hình kiến trúc - môi trường nói chung có xuất phát sơ khai từ mô hình nhà - vườn, cụm nhà - vườn lớn, tiến đến mô hình tiểu đô thị - công viên, đô thị - công viên lớn. Trước đây, môi trường sinh thái là phần điểm xuyết hoặc tiến hành cùng làm vườn hoặc công viên là bộ phận không tách rời của cấu thành kiến trúc. Nhưng dần dần, ý thức bảo vệ môi trường nâng cao lên theo cùng mức sống của dân cư, đòi hỏi phải có nơi có chỗ bố trí cây xanh - mặt nước để thư giãn giải trí tiến tới du ngoạn thưởng lãm phong cảnh thiên nhiên. Theo đó, kiến trúc môi trường sinh thái tiến lên hình thành KPS là bước thăng hoa cao hơn và được đề cao gần như là nghệ thuật kiến trúc phong cảnh. Đây là kiến trúc đặc thù còn gọi chung là kiến trúc phong cảnh (KTPC) mang tính nghệ thuật để tạo ra các công trình kiến trúc công viên nghệ thuật bao gồm cả kiến trúc phối cảnh dàn dựng thiên nhiên một cách sống động về thảm cỏ, cây xanh, hồ, ao, mặt nước, sông suối, bể, núi non nhân tạo... có bố trí ánh sáng nghệ thuật kèm nghệ thuật trồng cây, hoa. Ngoài ra còn có bố trí kiến trúc tượng đài, đền đài, dàn khung lối đi có cây leo che nắng ... góp phần tô điểm cho phong cảnh kiến tạo được đa sắc thái thêm phong phú.
Kinh nghiệm phát triển bền vững đô thị của các nước phát triển đang được chuyển giao dần trong 3 thập niên qua cho các nước đang phát triển thông qua các hội thảo, hội nghị, dự án tài trợ...
Nhìn sang Thái Lan, thủ đô Băng Cốc trước đây có 1,6 triệu dân năm 1958, đã tăng lên 5,4 triệu dân vào 1986, đạt tới 8 triệu dân vào năm 2006. Vùng đô thị hoá ở đây diện tích đã tăng lên gấp đôi so với trước do mở rộng và phát triển nhanh các đường bộ chủ đạo cùng các kênh đào mới. Bản quy hoạch đô thị lớn ban đầu đề ra từ tháng 6/1999, điều chỉnh vào tháng 5/2006, đã đặt mục tiêu phát triển đô thị để đáp ứng dân số 10,2 triệu vào năm 2017 và tăng tới 11 triệu vào năm 2022. Theo đó, thành lập cơ quan hành chính đầu não cấp cao của thành phố để tập trung điều hành thực hiện quy hoạch thủ đô mở rộng mới theo dài hạn như đã đề ra nhằm đạt hiệu quả.
Căn bản của việc điều chỉnh quy hoạch dựa vào chính sách phát triển đô thị lớn của chính phủ, các khả năng còn giới hạn của chính quyền địa phương trong việc điều tiết hiệu quả sử dụng đất, khắc phục sự thiếu hụt quan tâm có liên quan đến quản lý hạ tầng, quản lý sử dụng đất và bảo vệ môi trường. Hơn nữa, sự thiếu sót trong nhận thức còn chưa nhìn thấy được hết của bản quy hoạch về các mặt: thực trạng ùn tắc giao thông, gia tăng ô nhiễm, sự yếu kém quản lý, kiểm soát các tụ điểm đông dân dẫn đến sự suy giảm chất lượng sống ở đô thị. Băng Cốc cũng như các thành phố lớn của châu Á đã phát triển nhanh. Nhưng Băng Cốc đã lường trước sớm đào tạo đội ngũ kiến trúc sư chuyên về kiến trúc phong cảnh sinh thái, bài trí tiểu cảnh, về công viên đã có trên 35 năm qua.
KTPC tiêu biểu của Thái Lan là kiến trúc công viên ở gần sân bay Thành phố (sân bay Suvarnabhumi) ở Băng Cốc. Bản quy hoạch tổng thể kiến trúc mẫu về Công viên Môi trường Quốc tế Sirindhorn được coi là bản thiết kế sinh thái dựa theo các tiêu chí của Vua Thái đề ra đã đạt được đầy đủ hiệu quả kinh tế.
Thái Lan đã tổ chức cuộc thi thiết kế quốc tế về tượng đài tưởng niệm các nạn nhân của sóng thần năm 2006. Các tác giả Richard Weller và Gary Marinko của nước Úc đã đoạt giải. Điều này thể hiện quyết tâm nâng tầm thiết kế KTPC của Thái Lan lên tầm quốc tế để tăng thu hút khách du lịch.
Hiện nay, Thái Lan đã có tới 30 Công ty chuyên về KTPC. Trong đó có 15 Công ty đã đăng ký gia nhập Hội KTPC. Các dự án KTPC chủ yếu đã làm như: Công viên động vật Safari ở Chiềng Mai, Khu vực A1 Triển lãm mặt hàng xuất khẩu quốc tế của Hoàng gia... là các dự án phát triển đô thị đi kèm với KTPC. Đến năm 2009, cơ quan chuyên môn KTPC TALA chính thức kỷ niệm 20 năm thành lập (1988 - 2009).
Học viện KTPC của Singapore (SILA) thành lập từ năm 1985 (Thái Lan đã có cơ sở từ 1965), gần đây hoạt động có hiệu quả hơn và áp dụng dự án vào thực tế lại tốt hơn so với Thái Lan.
Singaporelà một thành phố lớn có 3,8 triệu dân. Trong đó, 100% hộ gia đình đã được cung cấp nước máy. Nước máy sạch và đảm bảo vệ sinh có thể uống trực tiếp. Thành phố có nhà máy xử lý nước thải với công suất khá lớn. ở đây có sự bố trí tách biệt giữa các công trình cấp nước sạch, công trình thoát nước mưa và công trình thoát nước thải. Phương thức quản lý nước làm theo kinh nghiệm của chế độ quản lý chung theo mô hình đô thị ở Mỹ và ở châu Âu. Tuy vậy, Singaporevẫn phải nhập khẩu thường xuyên 40% nước sạch theo nhu cầu từ sông của nước láng giềng Malaysia . Việc kiểm soát nước bao gồm: khống chế, điều tiết lượng nước, ngăn chặn sự phá hoại của nước đến công trình thuỷ. Việc quản lý nước bao gồm: bảo vệ, duy tu công trình thuỷ, tồn trữ nước, phân phối sử dụng nước. Theo đây, chúng tôi gọi chung là công tác kiểm quản nước ở Singapore đã đạt tiêu chuẩn cao của quốc tế.
Người ta đã chú trọng giữ cân bằng giữa phát triển nhanh đô thị lớn Singapore với bảo vệ môi trường sinh thái thuỷ cảnh để đạt tới sự phát triển bền vững. Thành phố Quốc đảo Singapore có mạng lưới thuỷ cảnh chung bao gồm: 14 khu vực hồ chứa nước, 32 sông kênh chính và trên 7.000km kênh - mương - hào thoát nước. Dự án xây dựng các công trình thuỷ lồng ghép với kiến trúc thuỷ cảnh sinh thái để cải thiện môi trường sinh hoạt là dự án lớn và quan trọng gắn liền với phát triển đô thị lớn Singapore .
Trong một số năm tới, 1 con đập sẽ được xây dựng (XD) qua kênh Marina và 4 đập sẽ được XD qua các cửa sông của các sông Punggol và Serangoon. Năm 2009, dự kiến Singapore sẽ XD 17 hồ chứa dự trữ nước ngọt để tận dụng các lượng mưa nhiệt đới hàng năm đổ vào quốc đảo này. Việc tăng cường lọc, làm sạch, hạn chế bốc hơi, tăng khả năng tái sử dụng nước mưa được chú trọng hơn. Điều này sẽ làm giảm tác dụng chảy có áp gây xói và làm giảm tải thoát nước cho sông - kênh - mương vào mùa mưa bão. Người ta đã thiết kế bổ sung trồng thêm các thảm cỏ xanh ở hai bên lưu vực các sông - kênh để tăng khả năng tự thấm nước và tăng diện tích cây cỏ tạo bộ lọc sinh học kết hợp đan xen với các khu bãi lọc bằng tro xỉ bổ trợ. Yêu cầu đặt ra là nâng cao tiêu chí xanh - sạch - đẹp và tiết kiệm nước sạch. Việc đào thêm các kênh dẫn (nước) nổi hay kênh dẫn ngầm đều được quan tâm xử lý thích đáng. Sự phục hồi một số sông bao gồm sông Singapore và sông Kallang cùng với công trình thuỷ ở Vịnh Marina được hoàn thành vào năm 2008. Kể từ khi đề ra dự án Chương trình Nước ABC vào tháng 4/2006, đã có 3 công trình của dự án ở hồ chứa Bedok, hồ trữ Mac Ritchie và khu dự trữ nước trên đoạn sông Kallang ở Kolam Ayer đã được thực thi. Mục tiêu nhằm tăng khu vực dự trữ nước cho Singapore được bao phủ trên diện rộng chiếm từ 1/2 đến tới 2/3 diện tích quốc đảo này trong vòng 5 năm tới. Phần còn lại của diện tích quốc đảo sẽ tiến hành làm nốt với sự khởi công tiếp theo của 3 phân đoạn dự án nữa.
Việc xây dựng công trình thuỷ kết hợp với kiến trúc thuỷ cảnh sinh thái tạo ra Công viên Bishan sinh động cùng với sự đổi mới bộ mặt kênh Kallang sẽ thu hút đông đảo dân chúng đến du ngoạn ngắm cảnh. Công trình địa phương này sẽ thu hút du khách đến nhiều giống như Công viên Thực vật nổi tiếng hiện nay của Singapore . Ngoài ra, các công trình kênh dẫn nước bằng bê tông cốt thép có lồng ghép kiến trúc thuỷ cảnh sẽ XD, như ở các kênh Bishan, Rochor và Sungei Whamp đã dự kiến làm, cũng có cảnh rất hữu tình hấp dẫn tham quan du lịch. Nhờ các công trình trên, Singapore sẽ có điều kiện kiểm quản nước được tốt hơn trước nhiều. Mặt khác, công trình mẫu mực này đáng để cho nhiều thành phố khác trên thế giới áp dụng không phải chỉ dành riêng cho phạm vi châu Á mà thôi.
Thái Lan và Singapore đã tận dụng các vùng đất trũng dọc lưu vực sông, kênh, các vùng đất trống mà sự trồng trọt bình thường không đạt hiệu quả cao, các vùng đất ngập nước hoang hoá thường xuyên... để bố trí XD KTPC. Công trình vừa có hiệu quả thu hút du lịch, vừa đáp ứng yêu cầu thư giãn giải trí du ngoạn thưởng lãm phong cảnh của cư dân đô thị. Qua đó, nâng cao chất lượng sống của người dân và du khách ở đô thị.
Nói tóm lại, muốn phát triển nhanh đô thị lớn gắn bó với bảo vệ môi trường sinh thái phải có sự dung hoà khéo léo bằng giải pháp cân bằng, từng bước đưa KTPC nhiều hơn vào bản quy hoạch đô thị lớn. Có thể KTPC sẽ lấp những chỗ trống mà quy hoạch còn chưa có dự kiến đến.









