Giáo sư Hoàng Minh Giám - một tri thức yêu nước tiêu biểu
Trong lời chia buồn trước linh cữu ông, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã đánh giá cao công lao của ông: “Một nhà giáo yêu nước đã tham gia phong trào từ những ngày đầu cách mạng. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cụ đã có nhiều đóng góp xứng đáng trên các lĩnh vực: văn hoá, giáo dục, nội vụ, ngoại giao. Cụ là một đại biểu xuất sắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và tăng cường tình hữu nghị với nhân dân thế giới”.
Giáo sư Hoàng Minh Giám sinh ngày 4 - 11 - 1904, tại làng Vẽ, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, trong một gia đình Nho giáo yêu nước. Thân sinh của giáo sư là cụ Phó bảng Hoàng Tăng Bí, một trong những sáng lập viên của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, hoạt động tích cực chống chủ nghĩa thực dân, nên đã bị nhà cầm quyền Pháp kết án tù biệt xứ, sau đó, đưa về Huế quản thúc. Giáo sư là cháu ngoại của cụ Cao Xuân Dục, Thượng thư dưới triều Thành Thái.
Ông đã học ở trường Tiểu học Đông Ba (1913 - 1917), Trường Quốc học Huế (1917 - 1921), Trường Bưởi (1921 - 1923) và Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (1923 - 1926). Khi còn là sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, ông đã tích cực tham gia các hoạt động yêu nước của học sinh, sinh viên, biểu tình bãi khoá, đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, tổ chức truy điệu cụ Phan Chu Trinh…
Năm 1926, ông dạy học tại Trường Sisovath ở Phnôm Pênh. Do viết bài cho một tờ báo tiến bộ, ông bị cách chức, phải về Sài Gòn dạy ở một số trường tư thục. Tại đây, ông là cộng tác viên đắc lực của báo La Cloche Félée(Tiếng chuông rẻ) của Nguyễn An ninh và báo L’ Annam(Nước An Nam) của Phan Văn Trường, xuất bản bằng tiếng Pháp. Những bài viết của ông đã phản ánh hiện thực xã hội, lên án chế độ cai trị đương thời. Nhà cầm quyền Pháp buộc ông phải rời Sài Gòn. Năm 1932, ông trở về Hà Nội dạy tại trường tư thục Gia Long (1932 - 1933).
Năm 1934, ông đã cùng với Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Nguyễn Bá Húc, Nguyễn Cao Luyện… thành lập trường Tư thục Thăng Long do chính ông là Hiệu trưởng. Trường Thăng Long đã tập hợp được nhiều thầy giáo là những trí thức yêu nước như cụ Bùi Kỷ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Đình Hoè, Phan Anh, Nguyễn Lân, Phạm Huy Thông, Lê Thị Xuyến…
Vào thời kỳ Mặt trận Bình dân thắng lợi, ông đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp ở miền Bắc Đông Dương.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông giữ chức Đổng lý Văn phòng Nội vụ của Chính phủ lâm thời nước ta (8 - 1945 đến 2 - 1946). Trong cuộc tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) ngày 6 - 1 - 1946, ông được bầu làm đại biểu, đảm nhiệm chức Uỷ viên Ban Thường trực Quốc hội khoá I; và liên tục được bầu vào Quốc hội cho đến khoá VII (1987).
Tháng 2 - 1946, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đồng thời trợ lý cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giao thiệp với đại diện Pháp, góp phần đáng kể để đi đến Hiệp định Sơ bộ 6 - 3 - 1946. Ông là thành viên Phái đoàn Chính phủ VNDCCH dự Hội nghị Fontainebleautại Pháp (6 - 7 đến 14 - 9 - 1946). Sau đó, ông được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ VNDCCH tại Pháp. Ông là người trực tiếp giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết Tạm ước Việt - Pháp ngày 14 - 9 - 1946.
Tháng 11 - 1946, theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông trở về nước và nhận chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (Bộ trưởng là Chủ tịch Hồ Chí Minh). Tháng 3 - 1947, ông đảm đương trọng trách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho đến năm 1954. Năm 1946, ông là một trong những người sáng lập Đảng Xã hội Việt Nam . Tháng 7 - 1947, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Xã hội Việt Nam, và được cử làm Phó Tổng thư ký Trung ương Đảng này từ năm 1956. Ngày 8 - 6 - 1950, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam(tức Đảng Cộng sản Việt Nam ). Tháng 8 - 1954, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền. Tháng 9 - 1955, Bộ Tuyên truyền đổi thành Bộ Văn hoá, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Văn hoá cho đến tháng 6 - 1976. Ông còn là hiệu trưởng Trường Đại học Nhân dân khoá I. Trong gần 22 năm làm Bộ trưởng Bộ Văn hoá (8 - 1954 đến 6 0 1976), Hoàng Minh Giám đã cùng các thứ trưởng có tài năng như Tố Hữu, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Lê Liêm, Nguyễn Đức Quỳ… xây dựng nền văn hoá mới của dân tộc. Nhạc sĩ Trần Hoàn, Bộ trưởng Bộ Văn hoá sau này, đã viết về vị Bộ trưởng Bộ Văn hoá đầu tiên của nước ta: “Anh là người đặt nền cho ngành văn hoá – thông tin sau này dưới ánh sáng của Đảng. Giới văn hoá cả nước thường gọi là người “Anh Cả” nhân hậu, giàu tình thương, uyên thâm trong xử thế và tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết toàn ngành… Xin nguyện học tập theo gương Anh, sống - chiến đấu - làm việc - xử thế với tinh thần người Cộng sản, mà lợi ích duy nhất là vì nhân dân, vì đất nước”. Tháng 6 - 1976, ông được Quốc hội khoá VI cử làm Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội. Từ Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Namlần thứ I (1955), ông liên tục được cử làm Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến năm 1976. Tháng 1 - 1997, tại Đại hội Thống nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Liên minh Các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam, ông được cử vào Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Thống nhất mang tên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và liên tục giữ cương vị này cho đến Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IV, ông được cử làm Uỷ viên Danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông còn là Chủ tịch Uỷ ban đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước của Việt Nam … Ghi nhận những công lao to lớn của ông đối với nhân dân và đất nước, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông: Huân chương Hồ Chí minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Giáo sư Hoàng Minh Giám mất ngày 12 - 1 - 1995, tại Hà Nội, hưởng thọ 91 tuổi và là một trong số những trí thức yêu nước, tiêu biểu của nước ta ở thế kỷ XX, đã có những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. |

Tháng 2 - 1946, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đồng thời trợ lý cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giao thiệp với đại diện Pháp, góp phần đáng kể để đi đến Hiệp định Sơ bộ 6 - 3 - 1946. Ông là thành viên Phái đoàn Chính phủ VNDCCH dự Hội nghị Fontainebleautại Pháp (6 - 7 đến 14 - 9 - 1946). Sau đó, ông được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ VNDCCH tại Pháp. Ông là người trực tiếp giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết Tạm ước Việt - Pháp ngày 14 - 9 - 1946. 






