Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 30/10/2006 14:08 (GMT+7)

Giảm tổn thất sau thu hoạch: công nghệ mới ở phòng thí nghiệm!

Không chỉ mất 3.000 tỷ đồng/năm vì TTSTH

Đối với lúa gạo, TTSTH của ta dao động trong khoảng 9-17%, thậm chí 20-30% tuỳ từng khu vực và mùa vụ. Nghĩa là chúng ta mất khoảng 3.000 tỷ đồng/năm, số tiền lớn hơn tổng thu ngân sách của hầu hết các tỉnh hiện nay. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ TTSTH cao nhất. Năm 1999, khu vực này sản xuất gần 17 triệu tấn lúa, với mức thiệt hại 20%, nông dân mất 3-3,5 triệu tấn, tương đương sản lượng lúa của Cần thơ và Sóc Trăng cộng lại. Cứ 1% TTSTH là ĐBSCL mất 7 triệu USD.

Đối với sản xuất rau quả, thu nhập của nông dân giảm từ 15-30% vì sản phẩm không được sơ chế, bảo quản, tiêu thụ kịp thời. Với gần 600.000ha, sản lượng khoảng 4-5 triệu tấn/năm, gồm nhiều loại cây ăn quả đặc sản nhưng năng lực chế biến chỉ đạt khoảng 200.000tấn/năm (chiếm 2% sản lượng), còn lại được sử dụng dưới dạng tươi sống. Chính vì không có công nghệ chế biến nên thu hoạch không đúng độ chín là chuyện “cơm bữa” bởi việc này phụ thuộc rất nhiều vào thị trường, thời tiết. Quá trình thu hoạch chưa được cơ giới hoá, thiếu cách thu hoạch thích hợp với từng loại rau, quả dẫn đến đa tổn thương cơ học và độ thối rữa cao. Việc phân loại, sơ chế và vận chuyển không đảm bảo do thiết bị đóng gói kém; thiếu công nghệ bảo quản hoàn hảo và không đồng bộ trong kiểm dịch, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật... đã hạn chế đáng kể số lượng, phẩm cấp và sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam. So với gạo Thái Lan, giá trị gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn do công nghệ sấy thóc gạo của ta chưa phát triển, thóc thường phơi trên các sàn đất, bê tông hay trên đường rải nhựa nên độ rạn, gãy cao (30%); tỷ lệ sạn, cát vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Vì thế giá gạo của ta thường thấp hơn gạo cùng phẩm cấp của Thái Lan 20-30USD/tấn... Cả ông Bạch Quốc Khang - Cục trưởng Cục Chế biến Nông-lân sản và Nghề muối và bà Trần Thị Mai – Phó Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đều chung nhận định: Để có được sự đồng bộ các khâu từ trước, trong và sau thu hoạch, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nông dân, nhà khoa học, nhà nước và doanh nghiệp để phát triển công nghệ bảo quản, chế biến như của Thái Lan và nhiều nước có nền nông nghiệp mạnh, có lẽ Việt Nam phải mất đến 15-20 năm nữa... Nông dân ta đang thu hoạch, bảo quản với công nghệ thủ công, lạc hậu, các doanh nghiệp chế biến cũng trong tình trạng bi đát không kém. Theo thống kê của Viện Kinh tế nông nghiệp, hầu hết công nghệ của các doanh nghiệp chuyên chế biến nông lâm sản đã qua 3-4 thế hệ; 73% số nhà xưởng tạm bợ, chắp vá; chỉ 1-5% sản phẩm làm ra đạt chất lượng quốc tế; 8-15% số doanh nghiệp đăng ký chất lượng sản phẩm; 40% doanh nghiệp không có trình độ chuyên môn, tay nghề...

Công nghệ, mới dừng lại ở phòng thị nghiệm

Mỗi năm nhà nước đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chế biến nông-lâm sản, trong đó có một phần không nhỏ dành cho công nghệ sau thu hoạch. Thế nhưng phần lớn các công trình này chỉ dừng lại ở... phòng thí nghiệm vì khó thích ứng và quá đắt với quy mô hộ gia đình. Nói cách khác, người nông dân chưa được thụ hưởng thành quả nghiên cứu về công nghệ sau thu hoạch. Kết quả khảo sát ở 13 tỉnh ĐBSCL của Trường Đại học Cần Thơ, Đại học An Giang và Đại học Nông – lâm TP. Hồ Chí Minh từ năm 2002 đến nay cho thấy: 50% nông dân ở vùng này bán lúa tươi ngay sau khi thu hoạch, vì đầu tư một lò sấy công suất 1-1,5 tấn/mẻ tốn hơn 10 triệu đồng. Ở An Giang, Cần Thơ và Kiên Giang, những nơi có số lượng máy sấy lúa nhiều nhưng cũng chỉ có khoảng 10-15% sản lượng lúa được sấy. ông Nguyễn Văn Phương, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp &PTNT An Giang thừa nhận: “Dù mạnh dạn cho nông dân vay vốn với lãi suất 0% trong vòng 3 năm để đầu tư lò sấy lúa và kết quả là lắp được 1.400 lò công suất từ 1 đến 25 tấn/mẻ nhưng cũng chỉ đáp ứng khoảng 35% sản lượng. Không phải nông dân không nhận thấy lợi ích của lò sấy, họ ngại vì tốn kém quá. Kiên Giang có sản lượng lúa sấp xỉ An Giang nhưng các doanh nghiệp thu mua chỉ dám nghĩ tới việc tạm trữ 50% sản lượng lúa hè thu năm 2005 đối với vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên vì cứ 1 tấn gạo tạm trữ phải công thêm lãi suất vay không dưới 2USD/tấn/tháng; nếu trữ lâu hơn, phẩm cấp gạo giảm, tổn thất còn lớn hơn. Ngay với doanh nghiệp thì việc bảo quản cũng khó khăn, nói gì đến nông dân?

Khi được hỏi về những thành tựu của Viện Cơ điện nông nghiệp % Công nghệ sau thu hoạch, một trong những đơn vị nghiên cứu nhiều về lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch, một cán bộ của Viện không nêu kết quả cụ thể mà thừa nhận: “Phần lớn các công trình nghiên cứu hiện nay chỉ nằm ở phòng thí nghiệm. Có những sản phẩm sấy giá rẻ, công nghệ chế tạo đơn giản thì lại khó kiểm soát chế độ sấy nên chất lượng sản phẩm thấp, hình thức, mẫu mã chưa mang tính công nghiệp; còn những giàn sấy hiện đại thì giá quá cao. Đành rằng người nông dân chưa thể bỏ ngay tập quán canh tác, bảo quản cũ, nhưng giúp họ tiếp cận và sử dụng thiết bị mới là trách nhiệm của các nhà khoa học”.

Giảm tỷ lệ TTSTH, cách nào?

Ông Nguyễn Duy Lâm, Trưởng phòng Khoa học – Đào tạo và Hợp tác quốc tế (Viện Cơ điện nông nghiệp & Công nghệ sau thu hoạch) cho rằng, nước ta đang thiếu một hệ thống các nhà sơ chế, bảo quản rau, quả. Ở Malaysia , nhà nước bỏ tiền, xây dựng rất nhiều nhà lạnh bảo quản cho từng vùng khác nhau, bao gồm tất cả các công đoạn từ rửa, phân loại, đo chỉ tiêu chất lượng, đóng gói... trên dây chuyền hoàn toàn tự động. Còn ở Việt Nam , người nông dân phần lớn tự thu hoạch, bảo quản bằng một số chế phẩm hoá học nên chất lượng, mẫu mã giảm là điều đương nhiên.

Theo Cục chế biến Nông-lâm sản và Nghề muối, để giảm TTSTH, cần đưa tỷ lệ cơ giới hoá đạp lúa trong cả nước đạt trên 90%, tẽ ngô đạt 60%; nâng cấp hệ thống kho tàng, bảo quản lúa, ngô, cà phê... để giảm tổn thất do nấm, mốc; ứng dụng thiết bị và công nghệ hiện đại trong sơ chế, bảo quản, xử lý, phân loại, bao gói rau - quả tươi.

Tất cả những điều này đều đúng và rất cấp thiết. Vấn đề là ai làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất. Chúng ta đã có hẳn một hệ thống các vụ, viện chuyên nghiên cứu về lĩnh vực này, hàng năm cũng có hàng loạt công trình được bảo vệ nhưng tại sao nông dân vẫn chưa tiếp cận được, vẫn chịu “mất mùa trong nhà” với “tổn thất “phát khiếp”. Ở đây không thể không nói đến trách nhiệm của những nhà quản lý.

TS. Võ Mai, Phó chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Trái cây Việt Nam (Vinafruit):

Nông dân chưa hề được ứng dụng công nghệ TTSTH

Muốn giảm TTSTH thì phải có công nghệ, đó là điều đương nhiên. Nhưng trên thực tế chưa hề có một công nghệ sau thu hoạch nào được ứng dụng tại vườn, không ai phổ biến cho. Riêng đối với rau, quả, không chỉ là các công đoạn rửa, chọn, xử lý... mà trước đó, công nghệ trồng, chăm sóc và công nghệ thu hoạch cũng rất quan trọng. Mỗi loại trái lại có cách thu hoạch riêng, sau đó là công nghệ lưu trữ bằng nhà lạnh. Tôi nghĩ, vấn đề không phải là nông dân ngại không muốn ứng dụng để thay đổi các phương pháp thu hoạch, bảo quản truyền thống mà quan trọng là các nhà khoa học, hệ thống khuyến nông phổ biến, tuyên truyền được đến đâu, hiệu quả thế nào. Vẫn biết phải đầu tư công nghệ, phải huấn luyện kỹ thuật nhưng nếu chỉ nói trên giấy thì TTSTH vẫn không thể tránh khỏi.

Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 33 (467), 15/8/2005, tr 3

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.