Giải pháp “kéo” rừng sản xuất lên 8 triệu hecta: Mở rộng vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp
Chưa chú trọng rừng sản xuất
Thống kê của Bộ Nông nghiệp & PTNT cho thấy, cả nước hiện có 3,3 triệu hecta rừng tự nhiên sản xuất, trong đó 1/3 là rừng nghèo, chất lượng, giá trị kinh tế và phòng hộ thấp và hơn 2 triệu hecta rừng nguyên liệu; khoảng 9,6 triệu hecta rừng và đất rừng quy hoạch cho rừng phòng hộ. Trong cuộc hội thảo về chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT Hứa Minh Nhị nhấn mạnh, các địa phương cần tập trung quy hoạch lại diện tích 3 loại rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất; mạnh dạn giao đất giao rừng tới hộ gia đình; tốt nhất, nên rút rừng phòng hộ xuống còn 5,7 triệu hecta. Rừng đặc dụng vẫn giữ nguyên 2,3 triệu hecta nhưng rừng sản xuất hiện tại mới đạt xấp xỉ 6 triệu hecta thì phải kéo lên mức trên 8 triệu hecta.
Sở dĩ có tình trạng quá nhiều rừng phòng hộ vì đây là loại rừng được sử dụng vốn ngân sách để thực hiện. Kết quả điều tra cho thấy, có chỗ không đáng làm rừng phòng hộ nhưng cũng được “nâng cấp” để “kéo” ngân sách, gây mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền địa phương. Quy hoạch lại các loại rừng sẽ tạo động lực để phát triển kinh tế rừng, có điều kiện ổn định lại sản xuất lâm nghiệp. Trước đây, đối với rừng phòng hộ, chỉ có Nhà nước rót tiền vào chứ chưa khuyến khích, thu hút nguồn vốn từ các thành phần kinh tế. Nay có rừng phòng hộ, rừng đặc dụng làm chuẩn sẽ khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tập trung vào phát triển rừng kinh tế. Quy hoạch lại cũng sẽ tập trung rừng phòng hộ đúng vị trí hơn trước kia, chúng sẽ được tập trung vào các khu vực đầu nguồn sản xuất nông nghiệp, khu vực chứa nước, vùng phòng hộ ven biển, phòng hộ biên giới...
Mở rộng vùng nguyên liệu - giải pháp “kéo” rừng sản xuất liên 8 triệu hecta
Để đảm bảo cho cuộc sống của người dân giữ rừng không chỉ đơn thuần là những chính sách hỗ trợ mà cần cách làm mới, sự quy hoạch đồng bộ. Ví dụ, trồng rừng phòng hộ gắn với lợi ích kinh tế của người dân địa phương như nông - lâm kết hợp, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả. Đối với rừng sản xuất, tập trung trồng rừng nguyên liệu, cây công nghiệp dài ngày với phương thức thâm canh, sử dụng giống có năng suất cao, gắn với đầu tư công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh việc giao khoán rừng tự nhiên cho đồng bào bảo vệ và kinh doanh sản phẩm dưới tán rừng để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường sống trong cộng dồng thôn bản, tiến đến chấm dứt tập quán phá rừng làm rẫy, góp phần xoá đó giảm nghèo, ổn định cuộc sống.
Ngoài ra, muốn nâng cao thu nhập, người dân phải ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, lựa chọn cây nguyên liệu có thời gian sinh trưởng nhanh, rút ngắn chu kỳ sản xuất. Tuy nhiên, thời gian qua, công tác khuyến lâm còn hời hợt, người dân chưa được tư vấn kỹ trong việc lựa chọn cây giống, trồng và chăm sóc một cách khoa học.
Hiện nay, phần lớn người dân chưa sống được với rừng nên vẫn xảy ra tình trạng phá rừng làm nương rẫy. Một trong những nguyên nhân khiến nông dân chưa “toàn tâm toàn ý” với công tác nhận khoanh nuôi, bảo vệ rừng và nhận đất để phát triển rừng sản xuất là mức hỗ trợ quá thấp. Ông Trần Ngọc Thương, Phó chủ tịch UBND huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) cho rằng: “Nếu cứ tiếp tục duy trì mức hỗ trợ 50.000 đồng/ha/năm thì sẽ không kích thích người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng”.
Thực tế ở nhiều nơi cho thấy, nếu việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng được làm một cách “bài bản” từ trên xuống với những chính sách hỗ trợ thoả đáng thì rừng sẽ xanh, người dân yên tâm gắn bó với rừng. Trước đây, các cánh rừng ở huyện Nghi Lộc (Nghệ An) bị tàn phá nặng nề. Nhưng từ năm 1993 đến nay, 1.400 ha rừng thông đã “hồi sinh” trên vùng đất “chết” (hiện đã có 700 ha đang thời kỳ thai thác nhựa). Dự tính năm nay, năng suất nhựa đạt khoảng 400 tấn, doanh thu 2,8 tỷ đồng, người dân được hưởng lợi 54,85%, trung bình một lao động khai thác nhựa thu nhập 1 triệu đồng/tháng. Đến nay, Nghi Lộc đã có 5000 hộ nhận khoán bảo vệ, chăm sóc rừng, 255 hộ khai thác nhựa, 252 hộ trồng rừng dự án; giải quyết việc làm cho trên 2.000 lao động.
Để có thể “kéo” rừng sản xuất lên 8 triệu hecta vào năm 2020, ngành chức năng cần rà soát lại quỹ đất lâm nghiệp hiện có, phân cấp rõ 3 loại rừng; đẩy nhanh tiến độ giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho hộ gia đình và các thành phần kinh tế. Trên cơ sở xác định việc xây dựng cơ sở chế biến quy mô vừa và nhỏ. Bộ Nông nghiệp & PTNT cần có hệ thống vườn ươm đảm bảo cung cấp đủ cây giống chất lượng, phù hợp điều kiện từng vùng để phục vụ nhu cầu trồng rừng.
Xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản được coi là giải pháp thực hiện mục tiêu phát triển rừng sản xuất. Nhưng phần lớn các địa phương có rừng đều chưa tạo được vùng nguyên liệu tương xứng và chưa gắn với yêu cầu của nhà máy sẵn có. Hiện mỗi năm, công ty Giấy Bãi Bằng (Phong Châu – Phú Thọ) cần 350.000 tấn tre, gỗ, nứa nhưng năm 2005 chỉ thu mua được 218.000 tấn. Do quy hoạch vùng nguyên liệu phân tán, nhỏ lẻ nên có nhiều hộ trồng rừng quy mô nhỏ không thể bán sản phẩm cho nhà máy, bởi ở quá xa khu chế biến.
Rừng sản xuất chỉ có thể phát triển khi coi đó là nghề - Ông Nguyễn Ngọc Bình, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp & PTNT)phát biểu
Về lâu dài, rừng chỉ có thể phát triển bền vững khi có một lực lượng lao động dân cư tại chỗ tập trung cho sản xuất rừng và coi đó là một nghề; còn nếu coi phát triển rừng là phụ và người dân cứ phải lo cái ăn thì không thể có một cánh rừng tốt. Chính phủ nên có kế hoạch cung ứng lương thực ổn định bằng cách giao lương thực gắn với kết quả sản xuất và bảo vệ rừng trong 20-30 năm để khi rừng đảm bảo có được nguồn thu nhập cho dân thì sẽ có những điều chỉnh hợp lý khác. Ngoài ra muốn làm giàu rừng, cần chú trọng phát triển giống cây trồng lâm nghiệp, chủ đạo trên các vùng sinh thái; xây dựng các mô hình kết hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng với kinh doanh lâm sản dưới tán rừng; đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 32 (518), 7/8/2006








