Đông y Việt Nam: Con sâu bỏ rầu nồi canh
Vô tình những lương y hành nghề chân chính dễ bị hiểu lầm trong đám đông lẫn lộn, uy tín của những bài thuốc quý và sự tin tưởng, đầu tư phát triển nền Đông y Việt Nam cũng vì thế mà bị ảnh hưởng.
Trên thực tế, có rất nhiều địa chỉ thầy lang bắt mạch, bốc thuốc thu hút được người bệnh tứ xứ đổ về khám, mua thuốc, sau đó bị tố giác là lừa đảo người bệnh, lại là những người hành nghề trái phép, không có sự thẩm định của ngành y tế địa phương, cũng không có xác nhận, bằng cấp của đơn vị Đông y nào.
Nếu như trong Tây y, một viên thuốc, một phác đồ điều trị đến được với người bệnh phải trải qua quá trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, thử nghiệm trên động vật và trên người, thì trong Đông y, một bài thuốc được công nhận cũng phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, chặt chẽ. Đó là thời điểm ra đời của bài thuốc, người phát hiện và kế thừa bài thuốc, số bệnh nhân điều trị có hiệu quả, quy trình sao tẩm các vị thuốc…
Đặc biệt, bài thuốc Đông y luôn có sự thẩm định chắc chắn bằng thời gian lưu hành bài thuốc qua hàng trăm, hàng ngàn năm. Tuy nhiên, một điểm khó và là điểm rất dễ bị những lang băm lợi dụng, là tính chất “bí truyền” của bài thuốc. Mượn danh bài thuốc bí truyền, gia truyền, nhiều kẻ đã tùy tiện trà trộn các loại cây lá, nước, hoá chất, thậm chí cả thuốc Tây y để kiếm lời và gây hại cho sức khỏe người bệnh.
Khi xảy ra các trường hợp ngộ độc, dị ứng thuốc Nam, thuốc Bắc hay xuất hiện “thần y” với những loại nước, bột được quảng bá là “chữa bách bệnh”, người đóng vai trò thẩm định, trọng tài trên các cơ quan đại chúng lại thường là các bác sỹ Tây y. Trong khi Đông y và Tây y dựa trên hai cơ sở y lý hoàn toàn khác nhau.
Đông y gắn với tư duy của người phương Đông, chữa bệnh bằng cách tác động lên khối tổng thể của cơ thể, trái ngược với Tây y gắn với tư duy của người phương Tây, tác động cụ thể vào từng vị trí, bộ phận gây bệnh. Bác sỹ Tây y thẩm định Đông y sẽ không đảm bảo khách quan và rất dễ chỉ nhìn thấy những nhược điểm của Đông y so với Tây y.
Tây y hoàn toàn có cơ sở khoa học khi lý luận rằng, nói thuốc Đông y là “lành”, dù không chữa khỏi bệnh cũng không gây hại cho cơ thể, không có tác dụng phụ như thuốc Tây y là sai, vì trong mỗi vị thuốc có chứa nhiều chất khác nhau và có thể chứa chất độc hại. Quan niệm Đông y không gây độc rất có thể là do thuốc chưa được kiểm định lâm sàng rõ ràng như thuốc Tây y.
Tuy nhiên, Đông y cũng có lý khi chỉ ra rằng, có nhiều cách khám chữa bệnh chưa ai lý giải, chứng minh được cặn kẽ, ví dụ như kiến thức về hệ kinh lạc trong cơ thể, nhưng thực tế lại cho hiệu quả điều trị bệnh rất rõ ràng. Vì thế, để bác sỹ Tây y thẩm định Đông y sẽ khiến dư luận có những nhận thức không công bằng, đầy đủ về Đông y.
Từ xa xưa, những khái niệm như lương y, lang vườn, lang băm, không đơn thuần là cách gọi dân dã để ám chỉ sự tôn trọng hay mỉa mai chế giễu đối với tay nghề của người làm thuốc Đông y, mà là thể hiện sự phân cấp rõ ràng về ba mức bằng cấp, trình độ trong hệ thống Đông y truyền thống. Người muốn làm thuốc phải học chữ, học tướng số, địa lý, Nho giáo…, vì thế mới có cách gọi dân dã, ngắn gọn là “Nho - Y - Lý - Số”.
Sau đó phải trải qua các kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình. Các kỳ thi này sẽ cho kết quả bằng cấp tương đương với tú tài, cử nhân, tiến sỹ ngày nay. Những người đỗ kỳ thi cao nhất - thi Đình, tức là tiến sỹ thì sẽ ra làm quan, còn người chỉ đỗ đến thi Hội, tức là cử nhân, thì về dạy học hoặc làm thuốc. Những người này được gọi là lương y. Lang vườn là những người trồng thuốc, biết chữ, hiểu biết cách chữa những bệnh thông thường. Còn lang băm là những người không học hành, không biết chữ và làm ăn thiếu khoa học.
Đông y Việt Nam là nền y học hàn lâm, có lý luận cơ bản với đầy đủ các chuyên ngành nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, chấn thương, phụ khoa, ngũ quan khoa (tức tai - mũi - họng)…
Theo bác sỹ Nguyễn Xuân Hướng - Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, sau khi dời kinh đô về Thăng Long năm 1010, vua Lý Công Uẩn đã ban chiếu thành lập Viện Thái y, công nhận một nền y học chính thống của nước nhà. Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX, nền Đông y Việt Nam đã có 59 danh y với 61 tác phẩm kinh điển. Trong đó, phải kể tới Hải Thượng Lãn Ông - Tuệ Tĩnh với tác phẩm Hải Thượng y tông tâm lĩnh...
Ngay sau khi giành độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1945, dù còn rất nhiều khó khăn, tình hình phức tạp thù trong giặc ngoài, nhưng Bác Hồ và nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã quan tâm, chỉ đạo rất kịp thời việc bảo tồn và phát triển vốn quý Đông y, coi Đông y là một phần di sản văn hóa dân tộc, bởi đây là nền y học đã chăm lo sức khỏe cho toàn dân ta trong hàng ngàn năm qua.
Năm 1946, Hội Đông y Việt Nam đã ra đời với sự tham gia của hơn 300 thành viên, trong đó có nhiều lương y rất giỏi. Cho tới ngày nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vẫn xếp Đông y Việt Nam ở thứ hạng cao trên thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc.
Nhìn lại những vốn quý Đông y trong quá khứ và sự vận hành của hệ thống Đông y ngày nay, có nhiều điều không khỏi khiến người trong cuộc thấy buồn và người ngoài cuộc thấy giật mình ngạc nhiên. Nếu như cách đây khoảng 50 năm, nước ta có tới hàng vạn lương y giỏi thì đến năm 2006, toàn quốc chỉ công nhận còn 24 cụ giỏi, hầu hết đều ở tuổi cao.
Các khoa Đông y thuộc những bệnh viện lớn có mức phát triển khá chênh lệch, phụ thuộc phần lớn vào trình độ của các thầy thuốc trong khoa và sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện. Điều đáng ngạc nhiên là sinh viên khoa Đông y ở các trường đại học y dược, phải học tới 5/6 năm về Tây y, chỉ có 1 năm học chuyên sâu về Đông y.
Sinh viên ở các trường đại học về y học cổ truyền cũng chỉ được học khoảng 1/4 thời gian về Đông y, còn lại là Tây y. Hội Đông y Việt Nam hiện có lớp đào tạo chuyên sâu 3 năm về y học cổ truyền, nhưng số lương y tốt nghiệp vẫn quá ít so với nhu cầu thực tế. Ở Trung Quốc, các bác sỹ y học cổ truyền được đào tạo bắt đầu với 4 năm về Trung y, sau đó mới học 3 năm về Tây y.
Sở dĩ ở ta có sự bất hợp lý này là bởi thiếu nguồn giáo viên giỏi về giảng dạy Đông y. Bản thân giáo viên cũng được đào tạo chủ yếu về Tây y. Trong khi đó, theo kinh nghiệm của những người đã từng theo học cả Đông và Tây y, xét trên khía cạnh lý thuyết, học Đông y có phần khó hơn Tây y, vì nội dung lý luận trừu tượng nhiều hơn.
Kết hợp được những ưu điểm và khắc phục nhược điểm của Đông y và Tây y trong điều trị là điều lý tưởng nhất cho người bệnh, nhưng cũng rất khó. Muốn kết hợp được, thì bản thân thầy thuốc và người lãnh đạo phải hiểu được giá trị của cả Đông y và Tây y. Song với cách đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực Đông y và Tây y hiện nay, để có được sự kết hợp này là rất khó, phụ thuộc phần lớn vào sự nỗ lực đơn lẻ của cá nhân người làm nghề.








