Đôi điều suy ngẫm về tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi
Do tác động của cơ chế thị trường, một số hộ nông dân đã sản xuất theo phương thức “gia trại” quy mô vừa và nhỏ, để có sản phẩm hàng hoá. Nhưng cũng gặp nhiều khó khăn và phụ thuộc vào giá thức ăn chăn nuôi tăng cao và giá thuốc thú y cũng vậy. Sản phẩm tạo ra tiêu thụ không ổn định, giá cả bấp bênh, mất cân đối giữa “thu – chi” nên dễ bị thua lỗ. Ngoài ra, thiên tai, dịch bệnh dập dình đe doạ mà không phòng chống được, càng sản xuất lớn lại càng lỗ to.
Bởi vậy, chăn nuôi truyền thống còn có chỗ tồn tại để đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp trong gia đình và góp phần cung cấp sản phẩm cho xã hội đáng kẻ.
Để nâng cao dần phương thức tự chăn nuôi truyền thống nhỏ lẻ trong từng hộ gia đình hoặc trong các “gia trại” quy mô vừa và nhỏ, người nông dân chăn nuôi đã phải tự tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong điều kiện của họ. Qua sách, báo và qua các phương tiện thông tin đại chúng về khoa học - kỹ thuật để học tập. Đúc rút kinh nghiệm qua thực tế của bản thân và tham quan những cơ sở của những người nông dân làm ăn có kết quả. Điều đó chứng tỏ nông dân rất “Đói” khoa học - kỹ thuật và “Đói” cả thông tin thị trường.
Vậy, ai lo toan cung cấp những tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn nuôi cho họ?
Nhà nước rất quan tâm đến nghiên cứu khoa học, hàng năm đầu tư kinh phí không nhỏ cho nghiên cứu. Các nhà khoa học cũng say sưa nghiên cứu những vấn đề trong sản xuất hoặc nghiên cứu ứng dụng những thành tựu nước ngoài vào điều kiện ở Việt Nam . Các đề tài được nghiên cứu từ trong thí nghiệm, từ trang trại thực nghiệm và từ trong sản xuất. Hàng năm qua các hội nghị tổng kết nghiên cứu khoa học đã có khá nhiều đề tài được công nhận trở thành tiến bộ kỹ thuật để đưa vào phục vụ sản xuất. Đó là điều đáng mừng của các nhà khoa học đã bỏ ra bao công sức để tạo thành. Vấn đề còn lại là làm thế nào để những tiến bộ kỹ thuật ấy lọt vào “mắt xanh” của sản xuất.
Thế là, từng đợt đều có ra “lò” những tiến bộ kỹ thuật, nó được ghi trong các tập báo cáo dầy cộp dày hàng trăm trang, được ghi vào kỷ yếu, ghi vào tuyển tập công trình khoa học hoặc rải rác lạc lõng trong các tờ tạp chí… Phải chăng? Đó là nơi dừng chân “xả hơi” của các công trình được công nhận là tiến bộ kỹ thuật. Rồi đây, nó cũng không tồn tại lâu dài bởi mầu mực sẽ phai, giấy sẽ ố vàng, mối mọt thăm hỏi: kể cả thất lạc không tìm kiếm được, mà có thấy được cũng đã lỗi thời không áp dụng được nữa.
Nhà nước tốn tiền (tiền cũng từ trong dân mà ra); các nhà khoa học đổ công sức và trí tuệ; nông dân thì “Đói” khoa học - kỹ thuật; nhu cầu xã hội đòi hỏi ngày tăng về số lượng và chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Tất nhiên, tiến bộ kỹ thuật ứng dụng nó không vĩnh cửu, nhưng nó cũng mang tính thời sự nóng bỏng của từng thời kỳ theo nhịp phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, không nên “Ngâm” nó hay “Giam hãm” nó, mà nó chính là bạn đồng hành của người nông dân trong sản xuất.
Nên chăng? Mỗi khi các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi được Hội đồng Khoa học cấp nào đó công nhận ra “Lò”, cơ quan quản lý chuyên ngành cấp nhà nước nên thẩm định để chọn lọc đưa vào sản xuất. Hàng năm, nên có cuộc họp các cấp của ngành, thậm chí cả bà con nông dân tham dự để phổ biến những tiến bộ kỹ thuật, lấy thêm ý kiến bổ sung cho tiến bộ kỹ thuật từ thực tiễn sản xuất. Có thể, in các tờ rơi cho mỗi tiến bộ kỹ thuật, để từ tờ rơi bà con nông dân biết và áp dụng. Ở nông thôn trong mỗi thôn, xóm nên có bảng đen viết giới thiệu những tiến bộ kỹ thuật phù hợp về nông nghiệp nói chung và chăn nuôi thú ý nói riêng. Phổ biến trong các buổi phát thanh của huyện, của xã thậm của thôn để dân biết. Địa phương chăn nuôi phát triển, thành lập Câu lạc bộ chăn nuôi thú y của xã hoặc của thôn, xóm để kịp thời trao đổi các tiến bộ kỹ thuật và kinh nghiệm làm ăn. Tuỳ theo tiến bộ kỹ thuật nên xây dựng mô hình một cách hoàn chỉnh trong sản xuất, để từ mô hình đó là bài học thực tế để bàn con nông dân đến học tập.
Công tác phổ biến khoa học - kỹ thuật chăn nuôi, tuỳ hình thức nào đó nếu phải cung cấp kinh phí chắc cũng không khó khăn mà cơ quan quản lý ngành ở các cấp đều có thể giải quyết được. Nhiều hình thức khác có thể xã hội hoá để nông dân tự tổ chức, tự làm.
Cơ quan chức năng quản lý chuyên ngành cần quan tâm đến kinh nghiệm của người chăn nuôi, từ thực tiễn sản xuất họ đã đúc kết kinh nghiệm có hiệu quả được nhiều nơi đến học tập. Cũng nên coi đó là “tiến bộ kỹ thuật” được “Hội đồng sản xuất” công nhận của các nhà “Khoa học chân đất”, cần được nâng cao và phổ biến rộng rãi trong sản xuất.
Mỗi tiến bộ kỹ thuật được tạo thành do nhà nước đầu tư kinh phí, các nhà khoa học đầu tư tâm trí, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Lẽ ra, các tiến bộ kỹ thuật phải “nảy lộc, đâm chồi” để “đơm hoa, kết trái” trong sản xuất, đền đáp lại sự tạo thành ra nó và sự mong đợi của nông dân.
Đôi điều suy ngẫm về tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi, với tâm tư trăn trở từ lâu, nặng lòng với ngành nghề, mang nợ với bà con nông dân, với người chăn nuôi. Nhằm giải toả một phần chia sẻ suy tư đó với đồng nghiệp và cũng hy vọng đôi chút có sự đồng cảm với suy tư ấy, rồi lại cùng nhau suy ngẫm thêm, suy nghĩ nhiều hơn nữa.
Cần khẳng định: nông dân không bảo thủ. Nông dân cần nhiều thông tin và mong đợi những cái mới cho sản xuất. Nông dân luôn sáng tạo trong mọi hoàn cảnh, đó là “vũ khí” để xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu. Vì cuộc sống nông dân có nhiều suy nghĩ làm ăn, hãy cùng suy nghĩ với nông dân.








