Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/07/2009 23:57 (GMT+7)

Đi tìm nơi an táng của thi hào Nguyễn Du tại Huế

Nguyễn Du mất vào ngày mồng mười tháng 8 âm lịch tức ngày 16 - 09 - 1820 trong một cơn đại dịch, hưởng dương 56 tuổi.

Khi ông mất có em là Nguyễn Ức và cháu là Nguyễn Thảng, con Nguyễn Khản, đang làm quan ở Phú Xuân bên cạnh.

Ông được an táng ở cánh đồng Bầu Đá, xã An Ninh ,Phú xuân.

Cháu của ông là Nguyễn Hành bấy giờ ở Bắc Thành được tin ông mất, có làm thơ khóc chú và nói lên cái chết nhanh chóng bi thảm đến với ông :                

Dịch lệ hà năng tốc công tử?

Tam thu xuân lạc thử thành trung…

(Bệnh dịch sao có thể làm chú chết mau đến thế? Ba năm lưu lạc ở thành này)    

Các quan trong triều viếng nhiều câu đối, trong đó có câu

Nhất đại tài hoa vi sứ vi khanh sinh bất thiểm,

Bách niên sự nghiệp tại gia tại quốc tử do vinh.

Đến mùa hè năm Giáp Thân (1824), con trai ông là Nguyễn Ngũ đem hài cốt của cha về táng ở quê nhà, xứ Đồng Mát, nơi vườn cũ của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay đổi là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng ở xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về phía Đông Nam trên một bãi cát hẻo lánh. Con cháu có dựng một ngôi nhà thờ ở vườn cũ. Năm 1940, hội Khai Trí tiến đức có quyên tiền xây một ngôi nhà thờ gạch, lợp ngói, mặt trước có gạch kẻ hoa, chính giữa đề 4 chữ “Nhân kiệt địa linh”. Hai cột hai bên có câu đối nôm:

Khúc đâu lưu thủy hành vân để tiếng tài tình chung đất nước,

Chốn ấy san hồ cổ thụ nhớ người thanh khí nặng non sông.

Tháng 7 năm 1954, chiến tranh phá hủy ngôi nhà thờ này..

Như vậy Nguyễn Du được an táng lần đầu vào năm 1820 ở Cánh đồng Bầu Đá, An Ninh, Phú Xuân , cải táng lần thứ nhất năm 1824 về xứ Đồng Mát , cải táng lần thứ hai năm 1928 về xóm Đồng trên một bãi cát hẻo lánh ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Có lý do gì mà gia đình và các hậu duệ của ông phải cải táng ông nhiều lần như vậy ? hay đó là di chúc của người thiên cổ .Sau mỗi lần cải táng có xãy ra biến cố gì không ? đặc biệt là lần cải táng sau cùng vào năm 1928

Một trăm lẻ bốn năm sau người ta lại cải táng lần thứ 2 Ai là người đã đưa ra ý kiến đó ? và các người có trách nhiệm có nghiên cứu kỷ về ngôi mộ đầu tiên của ông ở cánh đồng Bầu Đá hay chưa? , phải giải thích cho giòng họ như thế nào để thuyết phục mọi người chấp nhận hay là chỉ vướng mắc một vấn đề tế nhi

Huyện Nghi xuân là một vùng đất có nhiều nhân tài khoa bảng đặc biệt là quê hương của ông tổ ngành phong thủy địa lý Việt Nam : Tả Ao

Vậy việc cải táng này có điều gì bí ẩn không ?

Trước khi khảo sát và xác định trên thực địa mộ táng của Nguyễn Du, chúng tôi phải tìm hiểu thời gian ông sống hơn 12 năm cuối đời từ1806-1820 tại Phú Xuân

Chúng tôi phải sưu tra lại các vấn đề địa lý, hình thể và phát triển của vùng đất Thuận Hóa Phú Xuân và tái tạo lại nó một cách có thể chấp nhận được bằng đồ họa trên máy tính, phải đối chiếu thực tế trên mặt đất với các bức không ảnh chụp từ vệ tinh của các chương trình Google Map Satellite, World Map, Earth… với nhiều độ phóng đai để có thể hình dung vùng đất này, nhất là vùng thượng nguồn của con sông ( sông Bạch Yến (Catu), sông Lấp, vùng An Đô, La Chữ, Kim Long, Kẽ Vạn, Xước Dũ, Eo Bầu, Nham Biều Giáp Hạ ,Linh Mụ, Chợ Thông…và đặc biệt hình thể vùng núi đá và các khoảng ruộng ở An Ninh thượng, hạ và cánh đồng Bầu Đá nơi an táng lần đầu tiên Nguyễn Du

Bàu Đá là một cánh đồng nằm ở phía tây bắc thành phố Huế (nay thuộc Lựu Bảo - An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên). Cánh đồng Bầu Đá là một thung lũng , một vùng lòng chảo, bao quanh 3 mặt là rú đá, riêng phía tây hở chạy thẳng đến núi An Đô, dựa lưng vào dãy Trường Sơn.

Bầu Đá cách kinh thành Huế về phía tây khoảng 8km đường chim bay, sau lưng đồi Hà Khê - chùa Linh Mụ, qua bên kia sông Bạch Yến có một vùng núi đá thấp thường gọi là Rú Đá. Quần thể Rú Đá gồm các ngọn đồi thấp dưới 30m. Rú được xem như bìa rừng, nơi có một hệ sinh học rất đa dạng. Cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn còn thấy người dân tộc Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Cà Tu… ở vùng ngoại ô Huế như Bảng Lảng (Tuần) Nham Biều, Rú Đá, Kim Phụng mang mật ong, củ mài, đặc sản miền núi bày bán ở chợ Bến Ngự, An Cựu, chợ Thông… Có một đoạn các ngọn Rú Đá này chạy liên kết nhau tạo thành ¾ một vòng tròn

Rú Đá còn gọi là Rú Bầu Đá, Rú Kèo Đá, Rú Vi, Rú Ri thuộc địa giới vùng Lựu Bảo. Rú có chiều dài khoảng 500m. Thung lũng nhỏ dưới chân rú là cánh đồng Bầu Đá, nay còn có tên là Bầu Sắn (Bàu Sắn). Với một đường kính khoảng gần 1km, trên cánh đồng nổi lên một cái cồn nhỏ

Trên đỉnh và lưng chừng rú Bầu Đá có vô số ngôi mộ chôn cất san sát nhau. Có những ngôi một rất cổ, có cả nghĩa trang của các nhà thờ Thiên Chúa Giáo, duy chỉ có trên cánh đồng Bầu Đá nổi lên một cái cồn nhỏ cô đơn. Nếu đi từ cầu Xước Dũ lên đến đỉnh Rú Bầu Đá khoảng 3km.

Nơi an táng Nguyễn Du trên cánh đồng Bầu Đá nay không còn một dấu vết nào. Có chăng chỉ còn một ruộng lúa xanh mướt trải dài, một luống bắp đang trổ cờ, một tiếng gió rít qua kè đá… “Dấu giày từng bước in rêu rành rành”.ở giữa cánh đồng này hiện nay chỉ có một ngôi mộ độc nhất của vị thượng thư họ Hoàng.

Vị trí ngôi mộ của ông thượng thư họ Hoàng được mô tả như sau : Phía chính tây là núi An Đô đồ sộ; phía sau dãy Trường Sơn hùng vĩ; phía đông gác chân lên rú Đá thấp hướng ra biển. Tả hữu là 2 ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long, Bạch Hổ, có một mạch nước phía trước. Theo thuật phong thuỷ gọi là “tích phúc tụ thuỷ” nghĩa là “lấy lộc cho cháu con”. Chung quanh mộ có Rú Đá thấp bao bọc, đó là thế đất tốt, có núi làm bình phong, có mạch nước minh đường thuỷ tụ… Một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lý nào cũng mơ tưởng như trong lý thuyết.

Thượng thư Hoàng Hữu Thường (người xã Quảng Tế, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) là con của một gia đình chài lưới. Năm 1873 đỗ Giải Nguyên, năm 1875 đổ Tiến Sĩ, năm 1882 ông cùng với Khâm sai Trần Đình Túc thương thuyết với quân Pháp. Thời vua Đồng Khánh, ông làm Thượng thư Bộ Công, Hiệp Biện Đai Học Sĩ. Ông mất vào tháng 12 năm 1887, an táng tại cánh đồng Bàu Đá.

Đã là thượng thư bộ Công, làm quan trải qua 6 đời vua (Tự Đức, Dục Dức, Kiến Phúc, Hiệp Hòa, Hàm Nghi, Đồng Khánh) là ngưới đứng đầu cơ quan chuyên xây cất lăng tẩm, miếu mạo… hẳn ông là người học vấn uyên thâm và thông thạo về thuật phong thủy địa lý hơn ai hết. Vậy thì khi chọn cho mình một nơi yên nghỉ ngàn năm tất phải phù hợp với sở học, phải nghĩ tới tiền đồ của con cháu, dòng họ và ước mơ của mình.

Nói về ngôi địa huyệt của quan Thượng thư Bộ Công và cánh đồng Bầu Đá thuộc vùng An Ninh thượng, về sau này và trước đó còn có rất nhiều bí ẩn cần phải giải mã. như chuyện con Ma Ơi và cái Lỗ Sứt, những chuyện thảm khốc chung quanh việc cải táng ngôi mộ của quan đại thần… các bạn có thể tìm hiểu thêm bà Hồ Thị Sâm 75 tuổi là người đang giữ mộ của Thượng Thư họ Hoàng.

Niềm tin của Nguyễn Du làcon người có “linh hồn” và những người có cùng tần số có thể tiếp xúc được với nhau qua các câu thơ trong truyên Kiều

Mai sau dầu có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

hay

Ào ào đổ lộc rung cây

Ở trong dường có hương bay ít nhiều

Dè chừng ngọn gió lần theo

Dấu giày từng bước in rêu rành rành

Người chết và người sống có thể đưa tới cho nhau một rung cảm, một cảm xúc như một tàn số âm thanh giao thoa với nhau. Đọc đi đọc lại nhiều lần bài Văn tế Thập Loại Chúng Sinh, mới hiểu được thế nào là thần giao cách cảm trong con người của Nguyễn Du. Một loạitruyền thông giữa cáctâm thức bằng các phương thức khác với cácgiác quantrigiác đãbiết. Đó là một hình thức tri giác ngoài giác quan( extra-sensory perception) haynhận thức dị thường( anomalous cognition),Những cá thể có cùng tần số cảm ứng trong điện trường sinh học, mặc dầu ở cách xa nhau rất xa vẫn nhận được những nguồn thông tin của nhau. Các nhà khoa học đã vận dụng những phát triển đó để giải thích về điềm, về giấc mơ, về những biểu hiện tâm sinh lý bất thường khi thân nhân (có thể cách nhau rất xa về không gian) có cùng tần số điện trường sinh học khi xẩy ra sự cố bất thường.

Người ta bảo chết là hết, nhưng chết chưa phải đã hết khi người chết còn tồn tại trong tâm trí người sống. Sau khi chết, tim ngừng đập, máu ngừng chảy, thần kinh cảm giác ngừng hoạt động, vỏ não chưa bị huỷ, xung quanh hiện trường phát từ não vẫn chưa ngừng phát sóng. Lớp đất dày không ngăn được sóng điện sinh học. Cá thể sống có tần số điện trường sinh học tương ứng vẫn tiếp nhận được tín hiệu,

Theo phong tục nước ta ông Phan Kế Bính viết

"...Người mất, sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài năm nữa thì con cái lo việc cải táng

Trong khi cải táng, tục lại có ba điều là tường thuỵ (tức là mả phát tốt đẹp) thì không nên cải táng.


Một là, khi đào đất thấy có con rắn vàng thì cho là long xà khí vật. Hai là, khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn quýt thì cho là đất kết. Ba là, hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô ráo không có nước hay là nước đóng giọt lại như sữa đều là tốt.”

Nếu mộ kết mà vẫn cải táng thì không những mộ bị mất kết mà còn gặp nhiều điều rủi ro cho gia đình

Sau 3 năm xác người chết chưa phân hủy kịp, nên tốt nhất là để thời gian cải táng dài hơn 4 đến 10 năm hay hơn nữa, nhất là khi chôn cất lần đầu quá kỷ như bọc xác bằng những vật liệu khó phân hủy.

Một cảnh bốc mộ vội vàng được mô tả như sau : …Có những ngôi mộ được xây rất to và kiên cố, khối lượng đất đá phải đào có thể lớn gấp 2 - 3 lần. Nhất là gặp những ngôi mộ chưa tiêu hết, vẫn còn da thịt. Nhiều mộ được khâm liệm bằng nhiều loại quan tài bên trong lại có quan tài gỗ , quan quách

Có lẽ Nguyễn Ngũ , con trai của nhà đại thi hào này biết rõ hơn ai hết khi bốc mộ thân sinh mình

Trước khi đi tìm nơi chôn cất đầu tiên của Nguyễn Du chúng tôi có nghiên cứu thêm về thời gian Nguyễn Du sống tại Huế như địa chỉ nhà của ông ở đâu? Ông bị bệnh gì mà chết , căn bệnh đó có ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường hay không ? dự đoán khoảng cách giữa nhà ở đến chổ an táng bao xa ? qua các sử liệu có độ tin cậy cao nhất ví dụ như đia chỉ nhà ở của Nguyện Du qua bài thơ Ngẫu Hứng là ở xóm dệt vải ở vương đảo Kim Long , bệnh án tử vong của Nguyễn Du qua bài điếu văn của Nguyễn Khản, cháu gọi ông bằng chú ruột , tình trạng lây lan của căn bệnh ở thời điểm đó trong Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu và bài Khóc Nguyễn Du của Xuân Hương…

Về nguyên tắc khi chọn một địa huyệt để an táng :

Phài chọn được cảnh đẹp phải là nơi cao ráo , hậu chẫm phải được che chắn , trước mặt phải có mạch nước có bình phong , tả hữu phải được bào vệ …

Nếu không có được điều kiện ấy thì phải xem tuổi tác , ngày giờ chết , nhân thân của người chết hay người thân của người đó…

Mộ táng của quan Đại Thần Thượng Thư Bộ Công đáp ứng với các điều kiện căn bản đó, đó là địa huyệt thuôc loại Lôi Trạch Qui Muội , Triều sơn ( Gái về nhà chồng – nghĩa là mang theo của cải tiền bạc , mang theo sung mãn con cái làm ăn phát tài , danh vọng…) Tọa đoài hướng chấn ( Đầu người chết về hướng tây chân gái trên rú thấp về hướng đông ) Triều sơn ( núi qui tụ về một chỗ )

Quan sát mộ táng của vị Thượng Thư Bộ Công mới thấy hết cái sở học uyên thâm của ông về khoa địa lý và phong thủy khi chọn địa huyệt là chỗ dung thân ngàn năm , rất tiếc là các hậu duệ của ông không hiểu ý nghĩa sâu xa của ông nên đã cải táng đi nơi khác

Ngôi mộ của ông, một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lý nào củng mơ tưởng như trong lý thuyết

Để xác định tọa độ nơi người ta chôn cất nhà thi sĩ nhất mực tài hoa này chúng tôi:

Khảo sát thực địa, xác định vùng xã An Ninh, vùng cánh đồng Bàu Đá và tọa độ ngôi địa huyệt

Riêng về tọa độ ngôi địa huyệt là vấn đề thuộc chuyên môn sâu hơi khó khăn

Chúng tôi cho mời 10 thầy xem phong thủy địa lý đến hiện trường ở những thời điểm khác nhau , họ mang theo la bàn và dung cụ đo đạc chuyên môn để chỉ trả lời cho chúng tôi một câu hỏi duy nhất :

Trên cánh đồng nhỏ bé này , chỗ nào là địa huyệt lý tưởng

Chín trên mười các thầy phong thủy đều có cùng một đáp số : 16°27"31.41" vĩ bắc , 107°32"8.66" kinh đông.

Chúng tôi kiểm tra lại trên bản đồ không ảnh của Google Earth, tọa độ đó trùng hợp với mộ của quan Đại Thần Thượng Thư Bộ Hoàng Hữu Thường

Có thể giải thích một cách đơn giản là 67 năm sau khi Nguyễn Ngũ cải táng cha mình thì tọa độ đó chỉ còn là một bãi đất trống và quan Đai Thần Thương Thư Bộ Công đã là người nhìn thấy long mạch ở đó

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.