Di sản thế giới Hội An, giá trị văn hóa và nghệ thuật
Đô thị cổ Hội An chỉ chiếm một khoảng không gian chừng hai cây số vuông, thật nhỏ so với Đô thị Bến Nghé – Sài Gòn – Gia Định rộng bề thế, chỉ có bề dày lịch sử khoảng năm trăm năm, thật mỏng hơn nhiều so với Kẻ Chợ - Kinh Kỳ - Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội với hàng ngàn năm văn hiến, không có các quần thể di tích lịch sử đồ sộ và phong cảnh hữu tình như cố đô Phú Xuân – Huế… thế mà làm sao miền đất cổ xưa này lại có sức vẫy gọi kỳ lạ đến như thế, không chỉ đối với người dân ở mọi miền đất nước Việt Nam mà cả đối với các du khách và các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia của các châu lục trên thế giới.
Hội An khác với các đô thị cổ trong nước ở chỗ, mặc dù trải qua khoảng bốn trăm năm với chức năng của một vùng trung tâm ngoại thương với bến cảng, các khu phố ngoại kiều, dinh trấn quân sự mà nay không còn nữa và môi trường kiến trúc nay cũng đã đổi thay khác xưa, nhưng vẫn duy trì được cho đến tận nay một tổng thể với hàng ngàn di tích lịch sử mang những nét đặc thù của nghệ thuật kiến trúc đô thị Việt Nam. Đô thị cổ Hội An là một bằng chứng sinh động về lịch sử hình thành và phát triển của các đô thị Việt Nam qua các thời đại, mang tính phổ quát của đô thị phương Đông nhiệt đới gió mùa. Đô thị cổ Hội An là một tập hợp các loại hình kiến trúc đô thị cổ với một cơ cấu cư dân đô thị còn nguyên vẹn. Sự nguyên vẹn trong kiến trúc đô thị đó vẫn được bảo tồn ở ba bình diện: hình thái đô thị, đơn vị không gian kiến trúc tức khu phố cổ và từng công trình kiến trúc riêng lẻ.
Chính vì vậy mà giáo sư Pháp Denys Lombas đã phát biểu “Kiểu mẫu tiêu biểu của thành phố thương mại ở Việt Nam, ở Đông Nam châu Á chỉ có thể chỉ ra là Hội An”.
Và hầu như toàn bộ các công trình lịch sử đó đều có chủ nhân của chúng, đều được sử dụng trong cuộc sống hiện đại… Đặc biệt trong chính các ngôi nhà cổ hình ống đã được xây dựng cách đây hàng trăm năm, các thế hệ con cháu đời sau vẫn tiếp tục sống nối tiếp các thế hệ cha ông của họ. Đô thị cổ Hội An là như vậy đó, một thành phố cổ đang sống,hiếm thấy trên hành tinh chúng ta. Bởi vậy, ngày nay đi giữa phố phường của khu phố cổ, người ta cảm thấy lòng mình ấm cúng, cảm giác thân thương, cái xa xưa và cái hiện tại hòa quyện vào nhau trong cuộc sống hiện nay và trong tâm hồn của mỗi người dân ở nơi đây…
Cuộc điều tra cơ bản của các cơ quan thuộc các ngành văn hóa, khảo cổ, sử học, bảo tàng trong nước đã khảo sát được bảy trăm di tích lịch sử ở Đô thị cổ Hội An và đã nhận thấy trong đó có hai trăm sáu mươi công trình đáp ứng được các chuẩn mực giá trị kiến truc cổ từ các bộ phận đến toàn bộ mà điển hình là Chùa Cầu, Miếu Quan Công, Chùa Quan Âm, Hội Quán Phước Kiến, Đình Cẩm Phô, Nhà Thờ tộc Phạm, tộc Nguyễn, Nhà cổ số 101 Nguyễn Thái Học, số 37 Trần Phú…
Các công trình kiến trúc cổ còn tồn tại ở Đô thị cổ Hội An có thể xếp thành hai nhóm:
Trước hết là nhóm các công trình tín ngưỡngbao gồm các đình, chùa, đền, miếu, lăng, hội quán, nhà thờ tộc, văn bia, mộ cổ… Qua các công trình này, người ta thấy rõ kiến trúc ở khu phố cổ Hội An là kết quả của một sự giao thoa, hòa điệu giữa các nền văn hóa của Đông Nam Á và Viễn Đông, góp phần làm phong phú thêm tính đa dạng của di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Nhóm các công trình dân sựbao gồm những đường phố hẹp, nhà ở, khu chợ, giếng cổ và cầu. Trong nhóm kiến trúc này, nhà ở là loại hình quan trọng nhất, là đơn vị cơ bản cấu thành đô thị. Nhà cổ ơ Hội An chia thành nhà rườngvà nhà phố.
Nhà rườngcó kết cấu xây dựng tương tự như ngôi nhà cổ truyền Việt Nam, thoáng mát với ba gian hai chái, mái ngói âm dương(lợp ngửa và sấp), sân gạch và vườn cây.
Nhà phốcó kiến trúc hình ống còn goi là “nhà ruột ngựa” dài gần năm chục mét, là nơi sống và buôn bán của giới thương nhân người Hoa và người Việt trước đây. Không gian ngôi nhà chia làm ba phần: Nếp nhà trước là cửa hàng buôn bán, nơi giao dịch, tiếp đó là sân trờitráng nắng và nhà cầunối liền với nếp nhà sau là nơi sinh sống và kho hàng; cuối cùng là sân sauvà nhà bếp, giếng nước, nhà vệ sinh. Hai mặt nhà phía trước và phía sau đều thông ra các mặt đường hoặc mặt trước thì thông ra đường còn mặt sau thì thông ra bến sông.
Điều đặc biệt là trong các công trình kiến trúc ở Đô thị cổ Hội An, các nghệ nhân làng Kim Bồng đã sử dụng các loại vì kèo khác nhau gọi là “vì kẻ chuyền” và “vì vỏ cua” đặc trưng cho phong cách kiến trúc Việt cổ kết hợp với các loại vì kèo gọi là “vì chồng rường” đặc trưng cho phong cách kiến trúc Hoa Bắc và “vì kèo chồng”, đặc trưng cho phong cách kiến trúc Hoa Nam của miền Nam Trung Hoa.
Một điều hết sức thú vị đáng lưu ý là mặc dù các loại hình vì kèo có nguồn gốc miền Nam Trung Hoa đó có mặt trên cùng một cấu kiện kiến trúc Việt Nam đã không đối chọi, mâu thuẫn nhau mà lại xoắn quyện và hòa hợp với nhau thành một thể thống nhất, tạo nên nét đặc trưng của một phong cách riêng biệt: Phong cách Hội An. Đó chính là sự thành công rự rỡ của các nghệ nhân nghề mộc tài hoa Kim Bồng ở Hội An trong những thế kỷ trước đây.
Một đặc điểm khác nữa về kết cấu kiến trúc cần lưu ý là hệ mái:Hệ mái truyền thống Việt Nam của các di tích lịch sử Đô thị cổ Hội An đều có độ dốc mái khá thống nhất với tỷ lệ 5/10 nghĩa là 50%, trong khi đó Chùa Cầu hay Lai viễn kiềudo người Nhật thiết kế trước đây và được các nghệ nhân Việt Nam thi công lại có hệ mái với độ dốc khá nhỏ, gần như nằm ngang. Đó là một đặc điểm kiến trúc ít gặp thấy ở các nước Đông Nam châu Á nhưng phổ biến ở vùng Viễn Đông, điều đó làm cho di tích cổ đó mang sắc thái kiến trúc Nhật Bản. Điều này đã làm cho không một ai có thể phủ nhận được sự có mặt của nền văn hóa Nhật Bản đã cấy trồng ở Hội An trong quá khứ. Song mái cầu Nhật Bản đã kết hợp một cách hài hòa với những bộ phận khác còn lại của công trình và làm cho chiếc cầu cổ mang một vẻ đẹp riêng nhưng gần gũi. Cấu trúc của bộ khung và độ cong thoải mái của nền cầu bằng gỗ là điểm gặp gỡ giao duyên của hai nền nghệ thuật kiến trúc Việt Nam – Nhật Bản.
Trong trang trí kiến trúc nội thất và ngoại thất ở tất cả các di tích lịch sử ở Đô thị cổ Hội An, các đề tài thường lấy từ thiên nhiên và sinh hoạt đời thường với những hoa văn, họa tiết, mô típ như hoa lá, chim muông, giao long, tứ linh, cá chép hóa rồng, mặt trời âm dương, mây cuộn, đôi trâm vắt chéo, bát bửu, chữ thọ, quạt xòe, tứ quý, thập bát tiên, tứ dân, sinh hoạt vua quan… được chạm khắc trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ, nhất là trên các bộ vì chồng rường, vì kẻ chuyền, vì vỏ cua, khung cửa, bẩy hiên, tai cột, mắt cửa… bằng các thủ pháp chạm chìm, chạm nổi, chạm thủng, chạm lộng, chạm kênh bong truyền thống; những hoạ tiết và mô týp trên các bức tường được đắp nổi và nạm ghép sành sứ nhiều màu sắc và trên các cột đá, các văn bia được chạm thật tinh xảo và tuyệt mỹ.
![]() |
Đặc biệt, những điêu khắc trên gỗ đã làm cho các kết cấu kiến trúc được cách điệu, làm cho chúng không còn là các bộ phận chịu lực nữa mà chỉ là những chi tiết trang trí kiến trúc nhẹ nhõm đầy sức hấp dẫn.Tuy nhiên người ta biết rõ các hình mặt trời, chiếc quạt xòe rộng… là những trang trí có vai trò quan trọng trong nghệ thuật Nhật Bản, cũng như hình chữ Thọ, bát bửu, quả đào, con rơi, con cua, tôm càng, quả lựu…. được tiếp nhận từ nghệ thuật Trung Hoa và những đề tài điêu khắc thuần Việt thường thấy là hoa trái, chim muông, tứ quý, tứ dân, đôi trâm vắt chéo với giải lụa, giao long, hoa sen, cá chép, bát quái…. Nhưng ở đây thật khó mà phân biệt rõ ràng những mô týp trang trí thuần Việt với các mô týp trang trí du nhập từ Trung Hoa hay vay mượn của Nhật Bản, điều đó làm cho các công trình điêu khắc của các di tích lịch sử nổi tiếng ở đô thị cổ thêm da dạng và phong phú.
Mặt khác, cần hiểu rằng các hình trạm khắc đó đều mang những nội dung tư tưởng cụ thể khác nhau: hình dơi riêng lẻ hay thành nhóm ba bốn con… có ý nghĩa chúc phúc, hình giao long gợi lên sự hóa rồng và quyền lực, hình chim phượng biểu hiện sự vận hành của vũ trụ, hình kỳ lân hiện thân cho tình phu thê chung thủy, hình giao long đùa với cá chép tiêu biểu cho sự dư thừa, sự sắp thành đạt, hình cá chép hóa long có ý nghĩa nguồn nước và sự dẫn đường cho thương thuyền vượt biển, hình mặt trời âm dương biểu hiện nguồn gốc và sức mạnh của vũ trụ, hình chữ thọ cầu nguyện cho sự trường tồn, hình đôi trâm vắt chéo với giải lụa nói lên sự cầu mong cho mọi sự như ý, hình các con dơi bao quanh chữ thọ chứa đựng lời chúc bốn phương đều hạnh phúc…
Cái đẹp của các công trình điêu khắc đó không chỉ được biểu hiện trong các hình thức thể hiện sắc sảo mà còn cả trong sự hàm chứa các nội dung triết lý nhân sinh sâu sắc.
Cũng cần phải nói thêm rằng hội họa dân gianở Đô thị cổ Hội An thể hiện phổ biến dưới hình thức tranh vẽ trang trí nội thất với các bức tứ bình, tứ quý, các tranh phong cảnh, sơn thủy, chim thú bằng chất màu tươi sáng và các bức chân dung thờ bằng mực tàu trên giấy dó mang dáng dấp Trung Hoa, có sức thấm đọng sâu sắc vào lòng người.
Các bức tượng lớn nhỏ của các vị Phật, các vị Thần trong các công trình tín ngưỡng, dù đứng riêng lẻ hay trong một hợp thể, đều là những công trình nghệ thuật tạc tượng độc đáo gây được những ấn tượng thẩm mỹ mạnh mẽ.
Nói tóm lại, Đô thị cổ Hội An mang trong lòng mình qua nhiều thế kỷ một kết cấu kiến trúc, trang trí kiến trúc, trang trí nội thật và ngoại thất với vẻ đẹp cổ xưa trong mọi di tích lịch sử mà chúng thể hiện một sự giao thoa, hòa điệu của nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau, từ đó tạo ra phong cách Hội An.Đó là sự tổng hòa của quá trình hội nhập, thẩm thấu, dung nạp một cách chọn lọc các yếu tố văn hóa ngoại lai, một sự giao lưu và hỗn dung giữa nền văn hóa dân tộc với nền văn hóa của thế giới ở khu vực Đông Nam châu Á và Viễn Đông. Như vậy, có nghĩa là vẻ đẹp độc đáo của các di tích kiến trúc của Đô thị cổ Hội An đã hội tụ, tổng hòa được các yếu tố của nền nghệ thuật truyền thống được làm phong phú thêm nhờ những yếu tố nghệ thuật nước ngoài, đa dạng về chủng loại, phong phú về đồ án, điêu luyện về đường nét. Tuy nhiên, trong quá trình du nhập, vay mượn và tiếp nhận các yếu tố văn hóa bên ngoài đó , phong cách Hội An vẫn không bao giờ để cho các yếu tố ngoại lai lấn át các yếu tố bản địa và đã bảo tồn được vững chắc các nền tảng truyền thống độc đáo và các yếu tố bản sắc đặc thù của dân tộc mình và vì vậy mà tạo nên được sự hài hòa và thống nhất giữa cái riêng biệt trong cái tổng thể, giữa cái ngoại lai trong cái nội tại.
Một đặc điểm cần lưu ý rằng trên lãnh thổ Việt Nam, khi các công trình kiến trúc, điêu khắc, tạc tượng của miền bắc đậm đà sắc thái của nền nghệ thuật thời Lý – Trần thì ở Đô thị Hội An các di tích lịch sử và nghệ thuật lại thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật thời Nguyễn thanh thoát, bay bổng, tạo nên sự hài hòa giữa kiến trúc xây dựng và trang trí nội thất trong một không gian nghệ thuật.
Nhờ đó mà Đô thị Hội An đã trở thành một di sản vô giá trong di sản văn hóa Việt Nam và cả trong kho tàng văn hóa của nhân loạivà đã được UNESCO công nhận danh hiệu “Di sản thế giới” ngày 4 – 12 – 1999.









