Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 13/10/2006 15:47 (GMT+7)

Để nông nghiệp hội nhập hiệu quả: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao!

Nông nghiệp Việt Nam còn lạc hậu

Thực tế thì nông nghiệp của ta chỉ mới “đậm đà bản sắc dân tộc” chứ chưa phải là một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại. Đại bộ phận nông dân vẫn còn tập quán nuôi trồng, canh tác lạc hậu, dựa theo kinh nghiệm là chủ yếu. Trước “ngưỡng cửa” WTO, nông nghiệp Việt Nam còn nhiều khó khăn và còn rất nhiều việc phải làm. Khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển chậm, vốn để hộ nông dân phát triển sản xuất rất thiếu, ít nhất có 50% số hộ nông dân đang thiếu vốn. Tỷ lệ nông sản chế biến so với tổng sản lượng còn rất thấp, các cơ sở chế biến đa phần sử dụng công nghệ lạc hậu cách đây khoảng 20 năm nên năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp. Ở ta tổn thất sau thu hoạch rất lớn, ngũ cốc tổn thất tới 12-20% (lúa 8-10%), quả tươi 25%, rau xanh 40% tổng giá trị sản phẩm, trong khi các nước phát triển tỷ lệ này chỉ dao động từ 3,9-5,6% đối với lúa gạo; 1,7-14,2% đối với rau quả. Khả năng tiếp thị, nắm bắt và xử lý thông tin thị trường của người nông dân và cả doanh nghiệp, cực kỳ yếu, do vậy việc sản xuất ít “dựa” vào nhu cầu thị trường. Điều kiện để cho người nông dân tiếp cận thông tin rất thiếu, khi họ năm bắt được thông tin về thị trường thì đã cũ, họ trồng được loại cây đó thì thị trường đã bão hoà.

Như vậy, nông nghiệp muốn phát triển, không còn cách nào khác là hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao.

Hướng tới một nền nông nghiệp công nghệ cao

Trong thoả thuận đạt được với EU về kết thúc đàm phán gia nhập WTO, mức thuế bình quân trong lĩnh vực nông nghiệp mà Việt Nam cam kết là 24%, với thời gian quá độ thực hiện là 3 năm. Mức thuế này nếu so với Trung Quốc được coi là ưu đãi hơn, nhưng vẫn thiệt thòi so với các nước láng giềng ASEAN khác. Để đủ sức khi tham gia vào WTO, ngành nông nghiệp Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp quan trọng, như đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu hàng hoá; tiếp cận và áp dụng hệ thống quả lý chất lượng sản phẩm ISO... Việc triển khai Chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000-2005 đã mang lại những kết quả tích cực, tạo được vùng trồng lúa chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ở ĐBSCL với 1 triệu hécta và ở đồng bằng sông Hồng 300.000ha; diện tích ngô lai đến nay đã chiếm 80% tổng diện tích ngô cả nước, thay thế dần các giống ngô cũ năng suất thấp... Việc nhân rộng mô hình cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm, đã tạo một “cú hích” chuyển đổi cơ cấu cây trồng mạnh mẽ ở các địa phương trên toàn quốc, tạo tập quán canh tác mới và sự chuyển biến về tâm lý của nông dân, họ mạnh dạn đầu tư hơn, giá trị sử dụng đất/ha liên tục liên tục được nâng lên một tầm cao mới. Chương trình an toàn dịch bệnh trong chăn nuôi, sử dụng chế phẩm, thức ăn an toàn cho gia súc tạo nguồn thịt sạch. Chương trình 3 giảm, 3 tăng (đã triển khai ở ĐBSCL vụ lúa đông xuân 2005 trên tổng diện tích là 30%, đến vụ mùa 2005 sẽ tăng lên 40%). Với tiêu chí 3 giảm (giảm lượng giống gieo trên một đơn vị diện tích; giảm lượng bón phân đạm; giảm lượng phun thuốc trừ sâu) và 3 tăng (tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế đã giúp nông dân giảm chi phí, hạ giá thành và đảm bảo tiêu chuẩn an toàn.

Bên cạnh đó, công nghệ sinh học đã tạo ra các chế phẩm thảo mộc, sản xuất thuốc trừ sâu vi nấm, vi sinh diệt sâu hại, sử dụng thiên địch phòng trừ sâu hại cây trồng... được nông dân áp dụng triệt để vào nuôi trồng. Hiện nay, tại ĐBSCL đang sử dụng kiến vàng thay thuốc trừ sâu, tăng chất lượng quả, năng suất cho cây có múi. Tại Đắk Lắk đã phòng trừ rệp sáp hại rễ cà phê và hồ tiêu bằng nấm vi sinh M.anisopliae cho kết quả rất tốt. Ngành nông nghiệp đang áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng, nhằm đảm bảo môi trường sinh thái, phát triển nông nghiệp bền vững. Không chỉ áp dụng trong bảo vệ thực vật, công nghệ sinh học đã bước đầu tham gia vào chọn tạo và nhân giống cây trồng, vật nuôi, bảo quản và chế biến nông sản, bảo vệ môi trường.

Gắn lợi ích nông dân với doanh nghiệp

Thực hiện tốt Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ là một trong những giải pháp cơ bản để hội nhập có hiệu quả. Trên thực tế, nếu chỉ ký hợp đồng tiêu thụ chung chung như mấy năm vừa qua thì cả doanh nghiệp và nông dân đều thua thiệt. Giải pháp gắn kết nông dân với doanh nghiệp thông qua việc để nông dân tham gia cổ phần của doanh nghiệp đã chứng minh hiệu quả (Công ty Cổ phần mía - đường Lam Sơn, Công ty Cổ phần chế biến nông sản Long Mỹ...), cần được nhân rộng. Bởi khi đó, lợi ích của họ gắn chặt với nhau. Và đây cũng là cách thực hiện quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá. Chuyện nông dân ở xã Núi Voi (Tịnh Biên - An Giang) thay đổi cách nghĩ, cách làm, sử dụng Internet tìm hiểu thị trường, theo dõi cung - cầu của từng mặt hàng nông sản đã giúp họ “được mùa giá” lúa gạo. Tháng 9 năm 2004, khi đọc được thông tin Bộ Thương mại cho phép xuất khẩu thêm gạo và nhu cầu gạo thế giới tăng, bà con trong xã bàn nhau giữ lúa lại. Đến tháng 10 giá lúa lên 2.250 đồng/kg, so với tháng trước chỉ có 1.700-1.800 đồng/kg. Sự năng động, nhạy bén giúp nông dân từng bước làm chủ sản xuất.

Ông Phan Huy Thông- Phó cục trưởng Cục Nông nghiệp (Bộ NN&PTNT):

Cần tạo mối quan hệ kinh tế chặt chẽ, bền vững giữa doanh nghiệp và nông dân

Hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật về nông sản của ta chưa tương đồng với quốc tế. Những tiêu chuẩn đưa ra trước đây chỉ dựa vào điều kiện và trình độ sản xuất của ta, đối với những nước có yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn thì hàng của ta và họ là rất khó. Chúng ta đang trong quá trình hài hoà hoá tiêu chuẩn, thảo luận với từng nước về vấn đề kỹ thuật, ngoại hình, nguồn gốc xuất xứ thông qua các cuộc đàm phán song phương, đa phương. Tuy nhiên, tuỳ từng thị trường thâm nhập mà nông sản Việt Nam đáp ứng những điều kiện khác nhau, không thể đánh đồng chất lượng nông sản của Việt Nam là kém, thực tế chúng ta có nhiều nông sản tốt, được khách hàng thế giới ưa chuộng. Mô hình tăng cường cạnh tranh bền vững cho nông nghiệp là liên kết 4 nhà: Nhà nước – nhà khoa học – nhà nông – nhà doanh nghiệp, trong đó để vươn ra thị trường nên lấy doanh nghiệp làm nòng cốt, đầu tàu. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, mối liên kết này được ví như là một con rồng, trong đó doanh nghiệp là đầu rồng. Cái đầu rồng này sẽ làm nhiệm vụ vươn ra thị trường tìm kiếm, nắm bắt thông tin rồi chuyển về cho nông dân. Nhà nước và nhà khoa học có nhiệm vụ tăng cường nối kết mối quan hệ này bằng cách chính sách, công trình khoa học tiến bộ để người nông dân gắn bó, đồng hành phát triển cùng doanh nghiệp.

Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng- Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam (gọi tắt là Liên hiệp hội Việt Nam):

Tăng cường đầu tư cho khoa học - công nghệ là nhiệm vụ hàng đầu của ngành nông nghiệp

Liên hiệp hội Việt Nam đang chủ trì Chương trình xây dựng mô hình nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, với sự liên kết giữa các thành viên của Liên hiệp hội Việt Nam,  trong đó có Hội Làm vườn. Chương trình được thực hiện ở 8 tỉnh phía Bắc, mỗi tỉnh có 1-2 HTX, đã tăng thu nhập của các hộ nông dân lên gấp đôi. Riêng ở HTX Quý Lộc (Thanh Hoá), thu nhập của nông dân tăng gấp 5 lần, do có sự kết hợp giữa lãnh đạo HTX với chính quyền xã và chỉ đạo của tỉnh, tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân.

Nguồn Kinh tế nông thôn, số 37(471), 12/9/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.