Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 23/02/2009 15:27 (GMT+7)

Để chiến lược giáo dục thực sự là chiến lược

Giáo dục việt nam đang ở đâu?

Có một câu chuyện vui:

Một người ngồi trên khinh khí cầu nhận ra mình bị lạc. Hạ thấp khinh khí cầu, nhìn thấy một người khác dưới đất, y tiếp tục xuống thấp và hét to: "Ông có thể cho tôi biết tôi đang ở đâu không?". Người bên dưới trả lời: "Ông đang lơ lửng ở độ cao 3 mét so với mặt đất". Người trên khinh khí cầu hỏi: "Ông làm việc trong ngành công nghệ thông tin?". Người bên dưới: "Đúng, nhưng sao ông biết?". Người trên khinh khí cầu: "Ồ, thông tin của ông rất đúng về mặt kỹ thuật, nhưng chẳng giúp được gì cho ai"...

Nền giáo dục (GD) Việt Nam đang ở đâu? Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy các phàn nàn về bất cập của GD VN: không có trường đại học đẳng cấp quốc tế; không có giải Nobel; số lượng phát minh quá ít; sinh viên (SV) ra trường không nói được tiếng Anh… Nhưng nếu chỉ "phát hiện" thế thôi thì giúp được gì cho việc xác định chiến lược phát triển? Một chiến lược đúng cần bắt đầu từ việc xác định chính xác chúng ta đang ở đâu.

Xin điểm vài con số thống kê được nêu tại Dự thảo chiến lược GD: "Năm học 2007-2008, cả nước có gần 23 triệu học sinh (HS), sinh viên (SV), tăng 2,86% so với năm học 2000-2001", "tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các trình độ khác nhau tăng từ 20% vào năm 2000 lên 31,5% vào năm 2007", "phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng đã được thành lập tại 55 trong số 63 Sở GD& ĐT", "ngân sách nhà nước đầu tư cho GD tăng liên tục từ 15,5% năm 2001 lên 20% năm 2007", "cơ chế "một cửa" được triển khai thí điểm tại cơ quan Bộ và 63/63 văn phòng của các Sở GD", "ở các trường cao đẳng, đại học (ĐH), số giảng viên có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ còn quá ít"…

Với những thống kê này, dường như nhà hoạch định chiến lược đã sử dụng các thước đo qui mô làm thước đo chính để đánh giá hiện trạng GD VN. Chúng ta sẽ còn thấy ảnh hưởng của việc chọn thước đo này đến chiến lược phát triển của GD VN trong phần sau.

Và sẽ đi đến đâu?

Câu chuyện vui kể trên tiếp diễn như sau:

...Người dưới đất liền hỏi: "Ông là doanh nhân?". "Đúng thế", người trên quả cầu đáp, "nhưng sao ông biết?". Người dưới đất nói: "Ông không biết mình đang ở đâu, muốn đi đâu nhưng lại mong tôi giúp đỡ. Ông đang ở đúng vị trí mà ông ở đó trước khi chúng ta gặp nhau, đó là lỗi của tôi".

Rất khó tìm thấy thông điệp chủ đạo của bản chiến lược để mọi người có thể hình dung về viễn cảnh GD VN, như nhà giáo Phạm Toàn viết trên báo Lao Động cuối tuần, bản dự thảo chiến lược "thiếu một tư tưởng". Chúng ta chỉ có thể góp nhặt các số liệu để hình dung sơ bộ bức tranh GD VN năm 2020: "Đến năm 2020 có 99% trẻ 5 tuổi được học một năm mẫu giáo chuẩn bị vào lớp 1", "đến năm 2020 có 99% trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học và trung học cơ sở", "tỷ lệ SV so với dân số trong độ tuổi từ 18 đến 24 là 40% vào năm 2020", "đến năm 2020 có 90% số trẻ 5 tuổi đạt chuẩn phát triển", "tỷ lệ hoàn thành cấp học được duy trì ở mức 90% trở lên đối với cả ba cấp học", "đến 2020 có trên 95% số học sinh tốt nghiệp được các doanh nghiệp và cơ quan sử dụng lao động đánh giá đáp ứng được các yêu cầu của công việc", "đến năm 2020 có ít nhất 5% tổng số SV tốt nghiệp ĐH có trình độ ngang bằng với SV tốt nghiệp loại giỏi ở các trường ĐH hàng đầu trong khối ASEAN", "đảm bảo duy trì tỷ lệ đầu tư cho GD trong tổng chi ngân sách nhà nước được là 20% trong giai đoạn 2008-2012, phấn đấu đạt 21% vào năm 2015", "đến năm 2020 có ít nhất 5 trường ĐH VN được xếp hạng trong số 50 ĐH hàng đầu của khu vực ASEAN và 2 trường ĐH VN được xếp hạng trong số 200 ĐH hàng đầu thế giới. Năm 2015 sẽ hoàn thành cơ bản việc xây dựng 4 trường ĐH VN đạt đẳng cấp quốc tế"…

Mặc dù trong phần mục tiêu chiến lược, nhà hoạch định có chia ra 3 mục tiêu chính là qui mô, chất lượng , hiệu quả và nguồn lực; nhưng thực tế có rất ít thước đo để đánh giá hiệu quả và chất lượng, hoặc nếu có cũng chưa rõ ràng về định nghĩa, cách thức đánh giá. Chẳng hạn, "đến năm 2020 có ít nhất 5% tổng số SV tốt nghiệp ĐH có trình độ ngang bằng với SV tốt nghiệp loại giỏi ở các trường ĐH hàng đầu trong khối ASEAN".

Cộng thêm các giải pháp "tái cấu trúc hệ thống GD", "xây dựng đội ngũ giáo viên", "đổi mới chương trình đào tạo"…, bản dự thảo chiến lược làm cho người xem có cảm nhận giáo dục VN sẽ tiếp tục phát triển theo hướng qui mô, lặp lại những giải pháp cũ… và có một viễn cảnh mơ hồ.

Có thực là kế hoạch chiến lược?

Goodstein, Nolan và Pfeiffer định nghĩa: "Hoạch định chiến lược là quá trình dẫn dắt các thành viên của một tổ chức tạo ra một tầm nhìn tương lai, và thực hiện cáchành động để đạt được tầm nhìn tương lai đó". Một bản kế hoạch chiến lược đầy đủ cần bao gồm tầm nhìn, sứ mệnh, các giá trị, mục tiêu chiến lược, chiến lược, chỉ tiêu và kế hoạch hành động.

Trở lại nội dung bản dự thảo chiến lược, không những thấy tầm nhìn phát triển chưa rõ ràng mà còn thấy nó chưa vạch ra được sứ mệnh, giá trị của ngành GD hay các mục tiêu chiến lược và chiến lược phát triển phù hợp mục tiêu đó.

 Dường như chúng ta còn chưa thống nhất trong cách hiểu về sứ mệnh ngành GD nói chung và Bộ GD& ĐT nói riêng. Điều này có thể thấy trong các giải pháp chiến lược nêu tại bản đề án, "thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về GD", "thực hiện phân cấp quản lý mạnh đối với các địa phương và các cơ sở GD", "nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các cấp về nội dung đào tạo, tài chính, nhân sự", "đến năm 2020 có ít nhất 150 chương trình tiên tiến quốc tế được sử dụng tại 30% số trường ĐH VN". Văn bản này chưa nêu được, Bộ sẽ quản lý nhà nước về GD như thế nào, phân cấp cho các trường ra sao? Để cho các trường tự chủ về chương trình thì việc đặt ra mục tiêu sử dụng các chương trình của quốc tế có cần thiết và khả thi với điều kiện VN?

Có thể đưa GD VN tiến lên, khi chúng ta vẫn lưu giữ các giá trị cũ, như bệnh thành tích, gian dối trong thi cử, thiếu minh bạch? Trong bản Dự thảo chiến lược không có thông tin nào về việc hình thành các giá trị cốt lõi trong giai đoạn tới. Việc thiếu vắng các giá trị cốt lõi đó làm người ta nghi ngờ những lợi ích mà sự thay đổi mang lại, thậm chí có thể chống lại sự thay đổi đó.

Một trong những giải pháp của Dự thảo là xóa bỏ biên chế trong GD từ năm 2010. Ngay sau đó www.tintuconline.com cho đăng phản hồi của các giáo viên, phần lớn tỏ ra lo ngại nảy sinh tiêu cực hoặc lộng quyền của hiệu trưởng. Chẳng lẽ, với chế độ biên chế lại không nảy sinh tiêu cực? Khi các giá trị như tính trung thực, minh bạch chưa được xây dựng, chứng minh thì mọi thay đổi đều có thể bị nghi ngờ.

Phát triển quy mô, tăng cường nguồn lực cho giáo dục có phải là mục tiêu chiến lược như bản Dự thảo nêu. Việc huy động mọi nguồn lực xã hội có thể nhanh chóng làm tăng quy mô GD VN; liệu quy mô đó có tạo ra những con người (sản phẩm của GD) có kiến thức, kỹ năng đáp ứng được định hướng phát triển chung đất nước. Nguồn lực chỉ là yếu tố đầu vào, quy mô chỉ là một phần của đầu ra, chúng ta chưa có hoặc hiểu chưa chính xác về mục tiêu chiến lược.

Một khi tầm nhìn, mục tiêu chiến lược chưa được xác định, khó có thể đánh giá các giải pháp chiến lược hoặc mục tiêu bản Dự thảo đưa ra chính xác đến mức nào.

Thay lời kết

Sẽ không tốt, nếu mất quá nhiều thời gian tranh cãi đâu là bản kế hoạch chiến lược hoàn hảo. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chiến lược GD cần xem xét thêm một số khía cạnh, để làm cho bản chiến lược có tính thuyết phục và khả thi hơn.

Thứ nhất, các nhà hoạch định chiến lược GD cần kết hợp với các nhà hoạch định chiến lược kinh tế xác định chiến lược phát triển kinh tế VN thời gian tới, chúng ta sẽ phát triển nền kinh tế theo hướng nào. Ví dụ, gợi ý của một chuyên gia marketing hàng đầu thế giới Phillip Kottler về việc "đưa VN trở thành bếp ăn của thế giới" có thể là một hướng đi.

Thứ hai, từ định hướng phát triển nền kinh tế, cần định nghĩa và xác định được cách thức đo lường các mục tiêu chiến lược của GD trong việc đào tạo ra những con người đáp ứng được đòi hỏi phát triển của nền kinh tế. Định nghĩa và cách thức đo lường các tiêu chí năng động, sáng tạo, trung thực, toàn diện… cần được làm rõ. Chẳng hạn, GD Mỹ đã có thời sử dụng chỉ số IQ của học sinh để đánh giá kết quả của nền GD cũng như tuyển dụng nhân sự tại các doanh nghiệp. Định nghĩa và xác định cách thức đo lường các mục tiêu chiến lược cần được thực hiện trước khi ban hành chiến lược.

Thứ ba, từ mục tiêu chiến lược đó cần xác định được các giá trị căn bản mà ngành GD cần xây dựng được trong quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược. Các giá trị căn bản như sự trung thực, nhiệt huyết công việc, nhân ái…phải trở thành văn hóa của ngành GD chứ không chỉ ở mức hô hào, kêu gọi.

Thứ tư, từ việc phân tích các yếu tố tác động đến mục tiêu chiến lược, cần xác định ra chiến lược phát triển nguồn lực bao gồm cả các giá trị căn bản đã xác định (đầu vào của GD), chiến lược phát triển chương trình, nội dung (quá trình GD) và chiến lược phát triển về quy mô, cơ cấu, chất lượng (đầu ra của GD) dựa trên mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố. Về bản chất, xây dựng chiến lược nghĩa là phải xác định được lĩnh vực mũi nhọn cần tập trung nguồn lực trong điều kiện nguồn lực hạn chế.

Thứ năm, từ việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục (mục tiêu chiến lược) và chiến lược phát triển từng yếu tố, các nhà hoạch định cần đặt ra được các chỉ tiêu ngắn và dài hạn cho việc phát triển từng yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra.

Thứ sáu, song song với việc xây dựng kế hoạch hành động thực hiện các chỉ tiêu, cần xây dựng được kế hoạch đánh giá mục tiêu chiến lược (hiệu quả của GD) và các chỉ tiêu phát triển nguồn lực (đầu vào), phát triển chương trình, nội dung (quá trình) và qui mô, chất lượng (đầu ra). Kết quả đo lường các chỉ tiêu sẽ được sử dụng để đánh giá tính đúng phù hợp của các chiến lược và xác định các điều chỉnh cần thiết tại từng giai đoạn.

Sự thay đổi thường được ví như ngọn gió thổi qua tảng băng trôi. Gió thường chỉ cuốn đi phần nổi trên mặt nước (được ví như các khía cạnh tổ chức, chiến lược, các số đo kết quả hoặc phần nhân sự bên dưới của hệ thống). Phần chìm của tảng băng (gồm tầm nhìn, cách ứng xử, các giá trị, tư duy, văn hóa…) vẫn không đổi. Những thay đổi bề mặt như thế không thể đem lại hiệu quả mong muốn.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.