Dây khai
Dây khai còn có tên là dây vàng hoan, dây cổ rùa, dậy họng trâu hay dóc. Đó là dây leo gỗ, dài đến 10m hay hơn. Lá mọc đối, phiến lá mỏng, hình trứng hay trái xoan, dài 7 – 12cm, rộng 3 – 6cm, gốc gần tròn, đầu có mũi nhọn ngắn; cuống lá dài 3 – 12mm. Lá kèm hình tam giác hẹp, dài khoảng 3 – 6mm, rụng sớm. Cụm hoa là một xim ở ngọn hay kẽ lá đầu cành, dài 6 – 8cm, mang nhiều hoa màu trắng đến vàng nhạt, mùi thơm hắc. Nụ hoa hình trụ, dài 14 – 18mm. Hoa mẫu 5; đài liền, thùy của đài hình tròn hay tam giác, dài khoảng 1mm; tràng liền, có ống ngắn hơn các thùy, cánh hoa xòe rộng và hơi cong. Nhị 5, đính ở họng tràng. Bầu 2 ô, cao 2,5mm, vòi nhụy dài 7 – 9mm, thò ra ngoài ống tràng. Quả nang hình cầu, đường kính 6 – 8mm, có 2 ô, chứa nhiều hạt nhỏ, dẹt, có cánh. Mùa hoa: tháng 7 – 10, quả: tháng 10 – 11.
Loài này phân bố ở nhiều nước Đông Nam Á như nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Philippines đến Indonesia. Ở nước ta, dây khai mọc khá phổ biến ở vùng rừng núi từ Quảng Trị (Bến Trạm), Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng (Bảo Lộc), Đồng Nai, Kiên Giang (Phú Quốc). Thường gặp ở rừng mưa nhiệt đới, ven rừng, bờ nương rẫy.
Người ta dùng rễ làm thuốc. Khi chặt rễ có mùi khai nồng đặc biệt, vì vậy mà có tên là dây khai. Cây tái sinh khỏe, có thể khai thác quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Sơ bộ phân tích thấy trong rễ khai có alcaloid, tinh dầu và đường với tỷ lệ thấp.
Rễ khai có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, mùi khai, có tác dụng kháng khuẩn rõ. Ngoài tác dụng chữa vết thương phần mềm, chống nhiễm khuẩn như đã nói trên, người ta còn dùng chữa thấp khớp, đau mình mẩy, lưng và đầu gối đau mỏi, vết tụ máu bầm tím. Nó còn làm thuốc bổ máu, thông kinh, trừ thấp nhiệt, phù thũng, dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống để có nhiều sữa, huyết dịch lưu thông. Thường dùng dưới dạng nước sắc, cao lỏng hay cao đặc, thuốc bột để uống, hoặc dùng rễ tươi giã đắp ngoài. Nấu nước xông chữa cảm cúm.









