Đau từ hệ thần kinh thách thức người chữa nội khoa
Nhiều nguyên nhân phức tạp
Các loại đau có thể đi cùng nhiều bệnh lý tiến triển hay di chứng của hệ thần kinh: bệnh đa thần kinh do đái tháo đường, do rượu hay độc chất (hóa trị…), bệnh thần kinh ngoại biên liên hợp với HIV, zona, bệnh xơ cứng rải rác, tai biến mạch máu não, thương tổn tủy. Đau cũng xảy ra trong khung cảnh sau chấn thương (cắt chi, thương tổn ở phần rễ, thân, rễ con, thương tổn ở tủy hoặc não), sau phẫu thuật, do ung thư hoặc bệnh thấp. Cuối cùng có một số là tự phát.
![]() |
| Sơ đồ hệ thần kinh người. |
Dai dẳng và kháng trị
Các loại đau có thể tự phát hay gây ra do sờ, chạm sướt nhẹ, chăn mền khi tiếp xúc, cử động, lạnh… Đôi khi một loạn cảm đau gây phản ứng giật nảy mình, có thể liên tục nhiều giờ hay cả ngày, và/hoặc kịch phát nhanh như chớp, đơn độc hay từng loạt. Đau được tả như bỏng, nằm sâu như bị co thắt, chuột rút, đau gây phản ứng giật nẩy như bị điện chích thường kèm theo cảm giác kim châm, kiến bò, tê cóng, ngứa rộng và sâu. Đôi khi chỉ có rối loạn cảm ứng nóng - lạnh có hoặc không kèm theo vận mạch vã mồ hôi.
![]() |
| Não bộ. |
Chẩn đoán chủ yếu là lâm sàng
Tiền sử bị chấn thương, thần kinh bị ngộ độc do thuốc (hóa trị), do chuyển hóa (đái tháo đường, suy thận), hay di chứng phẫu thuật giúp hướng định bệnh. Đau nhức mãn tính kéo dài từ nhiều tháng qua, chống chọi với thuốc giảm đau và kháng viêm không steroid bắt buộc phải tìm từ hướng hệ thần kinh. Phân tích triệu chứng học giúp lưu ý đến tính chất đau ở người bệnh: bỏng, điện chích, lạnh cóng, kềm kẹp, kim châm nhoi nhói, lúc nhúc kiến bò, tê cóng hay ngứa trong sâu… Không có dấu hiệu nào tự nó là đặc thù nhưng kết hợp lại cho hướng chẩn đoán đau từ hệ thần kinh.
Điều trị: Vài vị thuốc chính yếu
Y văn khuyên:
- Chống trầm cảm: Anafranil (Clomipramine), Laroxyl (Amitriotyline), Deroxat (Paroxétine), Séropram (Citalopram), Norset (Mirtazaoine), Effexor (Ventafaxine), Cymbalta (Dufoxétine).
- Chống động kinh: Neurontin (Gabapentine), Tégrétol (Carbamazépine).
Theo La Revue du Praticien, 15.11.2008
Hướng dẫn người bệnh
Người bệnh không rõ tình trạng đau của mình: dai dẳng và kháng trị, có khi vô tình là nạn nhân của giải thích lầm lạc… làm tăng thêm cảm giác đau ở thể xác, khổ sợ nặng nề ở tinh thần, phân hóa về hiểu biết.
Do đó, cần trao đổi với lời lẽ dễ hiểu, nhấn mạnh vào mấy điểm sau đây: liều thuốc rất nhẹ: 1/4 hay 1/2 viên buổi tối, không phải liệu trị trầm cảm hay động kinh, càng không phải thuốc ngủ, bất lợi nhỏ là phải đợi trên mươi ngày mới thấy hiệu nghiệm (theo y văn từ 15 ngày đến 3 tuần lễ), thuốc không gây nghiện vì cơ thể không đòi tăng thêm liều mỗi ngày.
Thực tiễn
Người bệnh vẻ căng thẳng, hơi bực bội, than đau ở các nơi lung tung, tả với đủ thứ tính chất lung tung của đau, đi chữa trị ở các nơi lung tung, uống thuốc lung tung các loại, các trường phái…
Ta bình tĩnh, cố gắng nghe (chán chết đi thôi, đành vậy!) trao đổi nhẹ nhàng, khám lâm sàng đủ thao tác kinh điển (như thầy dạy võ), gài hiệu ứng placebo để khai thác tối đa… cuối cùng kết thúc đơn thuốc, cùng với thuốc giảm đau, Amitriptyline 25mg và Halopéridol 1mg…, bồi thêm một điệp khúc có hiệu ứng placebo…, chia tay vui vẻ, thư giãn, chắc mẩm kết quả tốt và hẹn gặp lại sau mươi ngày…










