Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Chủ nhật, 17/02/2013 21:23 (GMT+7)

Đầu tư cho khoa học: “Một vốn, bốn lời”

KHCN: “Cứu cánh” cho nền kinh tế
“KHCN là vấn đề sống còn của quốc gia, điều này không hẳn vì tôi là Bộ trưởng mà bao biện, cổ xúy cho vai trò của KHCN, hoặc đề cao nó một cách quá mức, mà thực sự đây là vấn đề cốt tử, là bài học kinh nghiệm xương máu của tất cả các quốc gia nghèo khó đi lên từ đống tro tàn của chiến tranh”, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã bắt đầu câu chuyện với phóng viên trong suốt hai tiếng đồng hồ như vậy.
Ông dẫn giải, từ Tổng thống Hàn Quốc, Thủ tướng Nhật Bản, và ngay cả ngài Lý Quang Diệu, cựu Tổng thống Singapore đều khẳng định như thế. Đấy là những quốc gia nghèo hơn chúng ta về tài nguyên thiên nhiên, nhưng họ đã đứng dậy từ đống tro tàn và chỉ sau 50, 60 năm họ đã trở thành cường quốc.
Với nhận thức như vậy và nhìn lại quá trình phát triển đất nước, chúng ta tự hào trong 27 năm đổi mới, kể từ năm 1986, chúng ta đã có 27 năm tăng trưởng rất ngoạn mục, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7-8% một năm. Tuy nhiên, đi vào bản chất trong tăng trưởng những năm đó, chủ yếu dựa trên 3 yếu tố: tháo gỡ những cơ chế lạc hậu của chế độ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, nhân công giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên.
Nhưng đến nay cả 3 yếu tố này đã không còn. Khi nước ta trở thành thành viên của WTO, để được các quốc gia công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, các cơ chế cũ tiếp tục phải thay đổi, không còn bao cấp, kể cả Nhà nước không thể bao cấp cho DN Nhà nước.
Nhân công giá rẻ cũng không còn là lợi thế, bởi vì chúng ta đã vượt qua ngưỡng của một nước có thu nhập trung bình và gần đây các DN đã đổ xô đến Myanmar bởi nhân công giá rẻ của Myanmar đang hấp dẫn hơn rất nhiều. Tài nguyên khoáng sản đang cạn kiệt, Chính phủ đã phải ra lệnh cấm xuất khẩu các nguyên liệu thô như: Titan, boxit, và các loại quặng kim loại khác, than bắt đầu phải nhập khẩu từ Indonesia…
Kinh nghiệm của tất cả các quốc gia, ngay cả các chính khách khi đến thăm Việt Nam đều nói rằng đã đến lúc chúng ta phải đặt KHCN lên cùng với giáo dục đào tạo, là cứu cánh cho nền kinh tế. Điều này đã được Đảng và Nhà nước thể hiện qua Nghị quyết Trung ương 2 khóa 8, lần đầu KHCN và giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu.
Hiện chúng ta đang sửa đổi Hiến pháp và cũng đi theo hướng coi KHCN và giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, đây là tín hiệu đáng mừng, thể hiện nhận thức tiến bộ của Đảng và Nhà nước đối với vai trò của KHCN.
Ba cái “chưa”…
Nhưng để KHCN thực sự là quốc sách hàng đầu là con đường dài và gian nan, vì số lượng những người trong xã hội quan tâm thực sự không nhiều. Người dân cũng như cộng đồng DN hầu như không quan tâm đầu tư cho phát triển KHCN, chủ yếu dựa vào Nhà nước.
Bản thân tiềm lực nội tại KHCN cũng còn rất yếu kém, đội ngũ cán bộ KHCN đông về số lượng với 3,6 triệu người tốt nghiệp đại học và cao đẳng, với 50.000 người làm nghiên cứu chuyên nghiệp trong các viện nghiên cứu, với hơn 36.000 thạc sỹ, 18.000 tiến sỹ, hơn 10.000 GS, PGS, nhưng chất lượng chưa phải là cao.
Việt Nam gần như không có công bố quốc tế, ít đến mức chúng ta coi gần như không có, mỗi năm chỉ có 1 hoặc 2 sáng chế được đăng ký tại Hoa Kỳ. Nhiều nhà khoa học cũng nói rằng công bố quốc tế của Việt Nam trên các tạp chí khoa học nổi tiếng thế giới không bằng một trường đại học lớn của một nước láng giềng.
Chúng ta cũng chưa có nhà khoa học nào được giải Nobel, chỉ có duy nhất một sự kiện vang dội đó là GS. Ngô Bảo Châu lần đầu tiên được giải Fields, nhưng một trường đại học Hoa Kỳ có khi có hàng chục người được giải Nobel và ngay cả các quốc gia lân cận cũng đã bắt đầu lác đác có những khoa học được giải về Nobel, chưa kể những giải thưởng quốc tế lớn khác.
Và Việt Nam chưa có sản phẩm nào mà thương hiệu của nó được thế giới biết đến, để chỉ cần nhìn vào hoặc nghe tên người ta biết ngay đó là sản phẩm của Việt Nam. Ví dụ, nói Honda là của Nhật Bản, thậm chí nói nước mắm Phú Quốc, người ta cứ tưởng của Thái Lan nhưng không biết đấy là của Việt Nam…
Nói như vậy để thấy đội ngũ cán bộ khoa học có thể đông về số lượng nhưng thành tựu thì còn rất khiêm tốn so với các nước. Việt Nam phải phấn đấu rất kiên cường mới đuổi kịp được các nước top trên trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore.
KHCN đang phát triển ở mức rất khiêm tốn, trong khi đòi hỏi của nền kinh tế thì cao hơn rất nhiều, và đến bây giờ có thể nói nếu không phát triển KHCN, chúng ta không tìm thấy con đường nào khác để phát triển đất nước “không thể trông cậy vào tài nguyên thiên nhiên, ngay cả những nước giàu tài nguyên như các nước Trung Đông có nhiều dầu mỏ cũng không trở thành cường quốc được”, Bộ trưởng Nguyễn Quân nhấn mạnh.
Đầu tư cho khoa học: “Một vốn, bốn lời”
Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, làm thế nào để KHCN phát triển là một bài toán khó Việt Nam đã sống quá lâu trong thời bao cấp, dựa nhiều vào đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển KHCN.
Từ năm 2000, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, dành 2% tổng chi Ngân sách nhà nước hàng năm (tương đương khoảng 0,5-0,6% GDP) cho KHCN. Đây là tỷ lệ rất cao so với thế giới, Nhật Bản chỉ có 0,36% GDP quốc gia từ ngân sách dành cho KHCN, Hoa Kỳ 0,4%, Hàn Quốc: 0,45% GDP…
Nhưng đứng ở góc độ tổng đầu tư của xã hội cho KHCN, đây lại là con số rất thấp, vì Việt Nam không huy động được sự đầu tư của xã hội, đặc biệt là của DN cho KHCN. Theo thống kê, thì ngân sách nhà nước đầu tư xấp xỉ mỗi năm khoảng 700 triệu USD cho KHCN, thì xã hội chủ yếu là DN đầu tư khoảng 300 triệu USD.
Tổng đầu tư của chúng ta mới có được hơn 1 tỷ USD cho KHCN, và nguồn đầu tư này là vô cùng bé nhỏ so với nhu cầu của xã hội đối với KHCN, trong khi tại Nhật Bản có khoảng 150 tỷ USD dành cho KHCN, Hàn Quốc hơn 50 tỷ USD…
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quốc gia nào có nền KHCN càng phát triển thì tỉ trọng đầu tư cho KHCN của khu vực ngoài nhà nước so với NSNN càng lớn, ví dụ ở các nước phát triển như châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản tỉ trọng này thường là 3:1 đến 4:1. Trung Quốc cũng đã đạt được tỉ trọng 3:1 trong năm 2011. NSNN chỉ đảm bảo tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phục vụ lợi ích chung của quốc gia.
Nếu chúng ta coi KHCN là yếu tố quyết định cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn sắp tới thì đầu tư cho nó phải tương xứng, nếu chỉ đầu tư bình quân 10 USD/đầu người dân cho khoa học, chắc chắn không bao giờ đuổi kịp các nước.
Cả nước hiện có gần 600.000 DN, nếu tất cả DN đều trích 10% lợi nhuận trước thuế của họ cho KHCN, thì sẽ có ngay được nguồn khoảng 13.500 tỷ đồng và như vậy chúng ta đã có nguồn gấp đôi ngân sách nhà nước.
Gần đây, một số DN Việt Nam đã bắt đầu quan tâm tới KHCN, đây là những tín hiệu đáng mừng. Ví dụ như Tập đoàn Viễn thông Viettel năm 2010 đã thành lập một viện nghiên cứu và họ đã dành 10% lợi nhuận trước thuế cho viện này, khoảng 120 triệu USD. Ngay lập tức Viettel đã có những sản phẩm khoa học rất quan trọng, đó là có thể tự chế tạo được tổng đài tương đương với các thiết bị nhập khẩu.
Năm 2011, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã hạ thủy thành công giàn khoan tự nâng 90m nước đầu tiên do Việt Nam chế tạo. Tổng vốn đầu tư hơn 180 triệu USD, nhưng chỉ trong vòng hơn 2 năm sau khi khởi công vào tháng 6/2009, chúng ta đã hoàn toàn làm chủ công nghệ thiết kế chế tạo dàn khoan này và lập tức trở thành một trong 10 quốc gia trên thế giới, và một trong 3 quốc gia ở châu Á đủ năng lực chế tạo dàn khoan tự nâng 90m nước và 120m nước.

“Nói như thế để thấy khi đầu tư cho công nghệ thì hiệu quả của nó đem lại cho đất nước rất lớn, tức là bỏ ra một đồng đầu tư cho khoa học, có thể có được 5, 6 đồng lợi nhuận. Trong bối cảnh khó khăn, DN nào quan tâm đến KHCN có thể đứng vững. Và đã đến lúc KHCN không chỉ được nhìn nhận trong Nghị quyết của Đảng mà cần phải đi sâu vào thực tế…”, Bộ trưởng Nguyễn Quân khẳng định.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.