Liên hiệp các hội và khoa học kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 19/03/2003 22:27 (GMT+7)

Đào Duy Anh - Cuộc hành trình của một người trí thức chân chính

Đào Duy Anh (1904-1988) sinh tại Thanh Hoá. Năm 1927, ông gia nhập đảng Tân Việt, cộng tác với cụ Huỳnh Thúc Kháng làm báo Tiếng Dân và lập Quan hải Tùng thư nhằm truyền bá tri thức khoa học xã hộivà tư tưởng tiên tiến của thời đại. Từ năm 1932, ông nổi tiếng với bộ Hán Việt từ điển, rồi Pháp Việt từ điển, kế tiếp là Việt Nam văn hoá sử cương... Sau kháng chiến chống Pháp, ông dạy học và làchuyên viên Viện Sử học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Trong thời gian này, ông đã dịch, giới thiệu, chú giải nhiều tác phẩm cổ điển của văn hoá Việt Nam và năm 1974, ông cho in Từ điểnTruyện Kiều rất có giá trị. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình Lịch sử và Văn hoá Việt Nam bao gồm các tác phẩm: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Lịch sử cổ đạiViệt Nam, Việt Nam văn hoá sử cương, Đất nước Việt Nam qua các đời.

Đối với Đào Duy Anh, một thầy giáo trẻ đang dạy học tại trường tiểu học tỉnh lỵ Quảng Bình vào năm 1925, thì “cuộc đón tiếp cụ Phan Bội Châu ở Đồng Hới vào một buổi trưa cuối năm này” trên đường cụPhan bị thực dân Pháp đưa vào an trí ở Huế là “cái sự kiện có thể nói là đã định hướng cho cả cuộc đời từ trước đến sau” của ông. Từ đây, người trí thức trẻ tuổi Đào Duy Anh “nguyện làm con chim TinhVệ (ông lấy bút hiệu là Vệ Thạch - HCB) suốt đời ngậm đá lấp biển Đông, sẽ cố gắng cắp từng hòn sỏi mà mong góp phần vào công việc lấp biển học mênh mông bát ngát” nhằm đắp xây cho nền văn hóa dântộc.

Đào Duy Anh thành lập Quan hải Tùng thư và cho xuất bản loại sách phổ biến kiến thức và tư tưởng. Kết quả, Tùng thư ra được 13 tập sách nhỏ về kinh tế, chính trị, khoa học, góp phần phổ biến một sốkiến thức sơ đẳng về chủ nghĩa Mác.

Đóng góp quan trọng nhất của Đào Duy Anh trước Cách mạng tháng Tám vào việc phục vụ văn hoá dân tộc là hai công trình Hán-Việt từ điển và Pháp-Việt từ điển. Ông cho biết: “Vào những năm 30, tiếngViệt đã được sử dụng phổ biến trên các sách vở, báo chí, hoàn toàn thay thế cho Hán tự. Một nền văn học mới đang hình thành, thoát dần khỏi sự ràng buộc của lối văn từ chương hồi đầu thế kỷ. Nhưng ởcác trường bảo hộ lúc đó, học sinh phải học chữ Pháp là chính, chữ Quốc ngữ bị coi là thứ yếu, và do đó, lớp thanh niên được đào tạo ở các trường này hầu hết bị cắt rời khỏi cái nền Hán học. Đấy làchưa kể đến những người “du học” bên Pháp về mà không ít người trở thành “mất gốc”. Riêng trong lĩnh vực khoa học xã hội, nhiều người chỉ biết diễn đạt những khái niệm mới bằng tiếng Pháp chứ khôngnói được bằng tiếng mẹ đẻ. Nếu như vào những năm trước chiến tranh thế giới thứ nhất, các sĩ phu yêu nước, trong khi truyền bá những tư tưởng mới cho quốc dân, thường phải lấy nguyên các từ chính trịcủa Trung Hoa để phiên âm theo âm Hán-Việt, bất kể những từ đó đã có trong tiếng Việt hay chưa, thì bây giờ người ta phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Tình trạng đó cũng hạn chế một phần việcphát huy truyền thống văn hoá của dân tộc. ý định biên soạn sách Hán-Việt từ điển của tôi còn một dụng ý riêng là nhân việc giải thích từ, mà phổ biến trong nhân dân một số khái niệm chính trị theohướng chủ nghĩa Mác...”.

Trước Cách mạng tháng Tám, Đào Duy Anh còn có một công trình quan trọng nữa là Việt Nam văn hóa sử cương...Mặc dù tác giả cho rằng “sách này chỉ là một mớ tài liệu để tham khảo”, “phần lớn còn lànhững tài liệu sống sượng, chưa trải qua sự chọn lọc và nấu nướng của việc nghiên cứu và thảo luận” nhưng đây là công trình đặt nền móng và từ đó (1938) cho đến nay vẫn chưa có một tác phẩm lịch sửvăn hoá Việt Nam nào vượt qua nó.

Công việc thu hút nhiều tâm sức và có nhiều đóng góp sáng tạo nhất của Đào Duy Anh là sử học. Ông nói: “Nghiên cứu sử học là lẽ sống của tôi”. Lý do, theo ông: “Tôi tự xác định cho mình là phải cốgắng làm sao đem cái ánh sáng của chủ nghĩa Mác để khai thác vốn văn hóa dân tộc và chọn lấy những cái tốt mà góp phần vào cuộc cải tạo văn hoá nước nhà. Muốn như vậy, phải chuyên tâm nghiên cứu lịchsử vì chỉ có hiểu biết đầy đủ lịch sử dân tộc mới có thể chắt lọc ra đâu là những yếu tố truyền thống, đâu là những yếu tố ngoại lai”. Trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông là người đã kết hợp nhữngtruyền thuyết với sử liệu và đặt ra để nghiên cứu những vấn đề về đất Giao Chỉ và người Giao Chỉ, về Việt tộc, về Bách Việt và Lạc Việt. Ông là người chỉ ra mối quan hệ giữa cái tên Giao Chỉ với giaolong là vật tổ của Việt tộc, cũng như cái tên Lạc Việt có quan hệ với chim Lạc trên trống đồng. Ông cũng là người khẳng định văn hoá Đông Sơn là văn hoá Lạc Việt. Ông là người đã phát hiện ra cuộckháng chiến chống Tần của nhân dân Âu-Lạc. Ông cũng là người đã xác định vị trí, cương vực của nước Âu-Lạc, chứng minh Tượng quận không thuộc miền đất nước ta... Những kết quả nghiên cứu đó được ônghoàn thành trước cuộc đảo chính của quân đội Nhật 9/3/1945, tập hợp thành bản thảo Mấy vấn đề cổ sử Việt Nam, được tiếp tục sửa chữa, bổ sung và ông “đã dùng nó làm tài liệu cơ bản để giảng dạy môncổ sử Việt Nam ở trường Đại học Văn khoa Hà Nội”.

Sau Hiệp định Genève, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, ông phụ trách bộ môn Lịch sử Việt Nam. Ông viết: “Tôi vừa giảng bài vừa bổ sung hai bản thảo Cổ sử Việt Nam và Lịch sử Việt Nam,cố nhiên là tôi phải tìm thêm tài liệu mà nghiên cứu lại một số vấn đề thuộc về thời Bắc thuộc và thời Tự chủ”. “Quyển thượng của sách ấy đã được nhà xuất bản Văn hoá xuất bản năm 1958”.

“...Trong hơn sáu năm tôi cộng tác với Viện Sử học trước khi về hưu, tính ra tôi đã hiệu đính và phiên bản được khoảng một vạn trang in. Tôi rất vui lòng đã có dịp phục vụ công việc nghiên cứu sử họcmột cách thiết thực như thế ở trong không khí lặng lẽ của công việc âm thầm xa cảnh náo nhiệt của các cuộc thảo luận và bút chiến”.... Đào Duy Anh đã lần lượt cho ra đời các tác phẩm: Đất nước ViệtNam qua các đời, Chữ Nôm - nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến, Từ điển Truyện Kiều, Truyện Kiều khảo chứng và chú giải, Truyện Hoa tiên khảo chứng và chú giải v.v..

... Đầu xuân 1973, sau 50 năm “biết mấy nắng mưa” trong cuộc đời lao động của một người trí thức chân chính, ông hạ bút nắn nót ghi mấy dòng tổng kết: “Mỗi người đều “mang lấy nghiệp vào thân”, cáinghiệp của tôi là nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Để làm trọn cái nghiệp ấy, hay nói một cách khác, để thực hiện cái mệnh ấy, tôi đã phải lần mò khá lâu và nhiều khi đã phải đi vào những chặng đườngngoắt ngoéo. Ngày nay, đến buổi chiều tà của cuộc đời, nhìn lại quãng đường mình đã trải qua trong nửa thế kỷ nay, từ khi bước vào đời (1923-1973), tôi nhận thấy rằng người ta “có biết tôi cũng chỉ ởLịch sử dân tộc mà có buộc tội tôi cũng chỉ ở Lịch sử dân tộc”...

Nửa thế kỷ cống hiến không mệt mỏi của một con người. Ông là nhà bác học của Việt Nam thế kỷ XX, thế kỷ giao thoa văn hoá Đông - Tây trong lịch sử dân tộc, thế kỷ nở rộ những con người “đội đá vátrời” làm nên bước ngoặt “đứt gãy” thay đổi về chất diện mạo văn hoá Việt Nam. Ông là khuôn mẫu của người trí thức chân chính, miệt mài tô bồi cho nền văn hoá dân tộc, ông là học giả lớn của thế kỷ,là cây đại thụ của giới sử học Việt Nam hiện đại.

* Bài viết đã được đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số 82B tháng 12/2000
* Phần chữ trong khung do Ban Biên tập chú giải
* Các chữ trong ngoặc kép được trích trong: Đào Duy Anh, Nhớ nghĩ chiều hôm, NXB Trẻ, TP.HCM, 1989

Xem Thêm

TSKH Phan Xuân Dũng: Sự ghi nhận, tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân là điểm tựa để đội ngũ trí thức KH&CN cống hiến
TSKH Phan Xuân Dũng - Chủ tịch VUSTA là một trí thức dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp KH&CN, với nhiều dấu ấn đậm nét cho sự phát triển KH&CN nước nhà. Chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5, TSKH Phan Xuân Dũng đã có những chia sẻ cùng trang tin Vusta.vn về cuộc đời cống hiến cho KH&CN, những mong mỏi với đội ngũ trí thức KH&CN và sự phát triển của KH&CN nước nhà trong bối cảnh mới.
Những trí thức đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đó là thắng lợi của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ. Làm nên thắng lợi đó, có những đóng góp tâm sức và trí tuệ quý báu của đội ngũ trí thức, của các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
Những bác sĩ phẫu thuật Việt Nam nổi tiếng thế giới
Việt Nam không chỉ nổi tiếng với văn hóa, ẩm thực mà còn ngày càng chứng minh sự tiến bộ trong lĩnh vực y học và phẫu thuật. Dưới đây là danh sách những bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng của Việt Nam được thế giới ghi nhận.

Tin mới

VNCOLD và những đóng góp trong việc bảo đảm an ninh nguồn nước
Trong nhiều năm qua, Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam (VNCOLD) đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong các hoạt động tư vấn phản biện, đóng góp ý kiến cho việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến thủy lợi, thủy điện, tài nguyên nước, an ninh nguồn nước và an toàn đập, TS Hoàng Văn Thắng, Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước cho biết.
Chi hội Nhà báo Tạp chí Việt Nam hội nhập thực tiễn nghiệp vụ tại Thái Nguyên
Thực hiện chương trình hoạt động năm 2024, trong 2 ngày 16,17/ 7, Chi hội nhà báo tạp chí Việt Nam hội nhập (là Chi hội trực thuộc Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam) đã thực hiện chuyến đi thực tế tại 2 huyện Phú Lương, Đồng Hỷ và Khu di tích đặc biệt cấp quốc gia An toàn khu (ATK) Định Hóa (Thái Nguyên).
Quảng Trị: Triển khai kế hoạch Đại hội đại biểu Liên hiệp hội tỉnh lần thứ V
Sáng ngày 17/7, Liên hiệp hội tỉnh Quảng Trị đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2019 - 2024 để đánh giá kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024 và thông qua Kế hoạch tổ chức Đại hội đại biểu Liên hiệp hội tỉnh lần thứ V, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Quán triệt, triển khai Quy định số 162-QĐ/TW của Ban Bí thư
Chiều ngày 16/7 tại Hà Nội, Liện hiệp hội Việt Nam (Vusta), Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương đã tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai Quy định số 162-QĐ/TW, ngày 29/5/2024 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở cơ quan hội quần chúng.
Trà Vinh: 8 giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ là lực lượng trí thức tham gia vào các hoạt động khoa học, công nghệ, là nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có năng lực nghiên cứu, tiếp cận, chuyển giao và đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ, giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội phù hợp với xu hướng phát triển.
Phú Thọ: Tìm giải pháp bảo tồn và phát triển các làng nghề trong tỉnh
Ngày 17/7, Liên hiệp hội tỉnh đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc tỉnh Phú Thọ tổ chức hội thảo tư vấn, phản biện và giám định xã hội về: Giải pháp bảo tồn và phát triển các làng nghề làm bánh truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, góp phần phát triển du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam.
Tiền Giang: Liên hiệp Hội sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm
Ngày 12/7/2024, Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tiền Giang (Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024. Ông Nguyễn Văn Khang, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên hiệp Hội chủ trì Hội nghị.
Đắk Lắk: Góp ý Dự thảo Tờ trình và Dự thảo Nghị định về đăng ký doanh nghiệp
Ngày 12/7/2024, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức họp Hội đồng tư vấn, phản biện, góp ý về Dự thảo Tờ trình và Nghị định thay thế Nghị định số 01/2021/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. TS. Vương Hữu Nhi, Chủ tịch Liên hiệp hội tỉnh, làm Chủ tịch Hội đồng.
Phú Thọ: Tìm giải pháp cho phong trào xây dựng xã hội học tập suốt đời
Ngày 15/7, Liên hiệp hội tỉnh đã phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Khuyến học và Trường Đại học Hùng Vương tổ chức tọa đàm: “Giải pháp tích cực đẩy mạnh phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023 - 2030” trên địa bàn tỉnh”.
Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các hội trí thức từ Trung ương tới địa phương
Đây là nhiệm vụ do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì thực hiện nhằm triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Thanh Hoá: Kiểm tra dự án quản lý rừng ngập mặn
Ngày 11/7/2024, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) do đồng chí Nguyễn Văn Phát - Chủ tịch làm trưởng đoàn cùng các thành viên Ban Thường vụ, cơ quan Liên hiệp hội đến thăm và kiểm tra kết quả thực hiện dự án “Quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng để tăng cường khả năng chống chịu với rủi ro biến đổi khí hậu ở tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam”.