Đại học văn hóa và vai trò của văn học
Khác với trường đại học thời trung cổ, đại học hiện đại có một tư tưởng chủ đạo, tạo thành nền tảng cho mọi hoạt động của nó. Tư tưởng chủ đạo ấy, ở Immanuel Kant, là lý trí. Trong mô hình của mình Humboldt đã tiếp thu các ý tưởng của Kant, đặc biệt là tinh thần phê phán và ý tưởng tự trị đại học, nhưng ông quan niệm văn hoá thay cho lý trí để đóng vai trò tư tưởng chủ đạo. Sự thay thế này có những lý do lịch sử của nó.
Tương tự như trường ĐH Duy lý của Kant,ở trường ĐH Humboldt dựa trên hai khái niệm cơ bản: văn hoá và phê phán. Văn hoá đối với Humboldt, cũng như nhiều nhà tư tưởng đương thời như Schiller, Schleiermacher, hay Fichte, là sự kết hợp hai mặt: những kiến thức khác nhau được nghiên cứu và đồng thời là sự phát triển nhân cách thông qua quá trình nghiên cứu đó. Các kiến thức được nghiên cứu dựa trên lý trí và được lý trí liên kết thành một hệ thống thống nhất, nhưng quan trọng hơn là nó kết tinh trong truyền thống. Đồng thời, sự phát triển của nhân cách chính là sự trưởng thành của cá nhân thông qua việc hấp thụ những gì thuộc lý trí trong truyền thống đó.
Tuy nhiên, để những gì hấp thụ được thực sự là tinh tuý duy lý trong truyền thống, các kiến thức nghiên cứu cần phải được liên tục xem xét, phê phán. Vì thế, một quy chế tự trị cần phải được duy trì để đảm bảo cho tinh thần phê phán có thể vận hành hiệu quả.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng văn hoá gắn liền với truyền thống, nhưng đồng thời cũng có vai trò dẫn dắt con người tới tương lai. Có thể nói rằng văn hoá là cái liên kết quá khứ, hiện tại và tương lai của một cộng đồng. Như thế, văn hoá chính là nền tảng tạo nên bản sắc, con người văn hoá ở đây gắn liền với truyền thống của cộng đồng, cụ thể là truyền thống dân tộc. Nói cách khác, ĐH chính là nơi tạo nên chủ thể văn hoá của một quốc gia. Humboldt tin rằng nếu được giáo dục, con người sẽ trở thành những chủ thể tự do, có khả năng suy nghĩ độc lập để hành động vì lợi ích dân tộc - điều cực kỳ quan trọng đối với các nhà nước - dân tộc đang hình thành và lớn mạnh ở Châu Âu.
Chính vì ĐH phải đảm đương nhiệm vụ đào tạo ra chủ thể văn hoá của dân tộc nên chúng ta thấy xuất hiện một hiện tượng thú vị, đó là việc văn học nổi lên thay cho triết học trong trường ĐH duy lý của Kant. Lý do dễ nhận thấy là triết học có xu hướng hướng tới tính phổ quát, trong khi văn học gắn liền với ngôn ngữ và ký ức của một cộng đồng cụ thể. Một lý do khác là triết học chỉ dành riêng cho tầng lớp tinh hoa, trong khi văn học có thể được chia sẻ bởi đa số thành viên của cộng đồng.
Mặc dù mức độ và cách thức tiến hành khác nhau, giảng dạy văn học dân tộc trở thành môn quan trọng bậc nhất trong trường đại học hiện đại. Có thể liên hệ: trường đại học Trung cổ phương Tây dạy bảy môn gồm Tam khoa (Ngữ pháp, Tu từ học, Lô gích học) và Tứ khoa (Số học, Hình học, Thiên văn học và Âm nhạc). Tương tự, ở Việt Namthời Cổ và Trung đại, các nhà Nho học Tứ thư, Ngũ kinh chứ không học các tác giả Việt Nam ). Nhiều người quan niệm đơn giản rằng học văn là để tìm hiểu cái hay cái đẹp của văn chương. Điều đó cũng có, nhưng nhiệm vụ chính của môn văn là để xây dựng bản sắc văn hoá. Người Pháp học văn học Pháp để trở thành người Pháp. Người Việt học văn học Việt để trở thành nguời Việt.
Sự giảng dạy văn học ở các nước cũng phụ thuộc vào đặc điểm lịch sử của từng nước. Ở Châu Âu, vốn có một lịch sử lâu dài và từng trải qua hay vẫn còn duy trì các triều đại quân chủ, chương trình chủ yếu dựa trên truyền thống văn học. Ở Hoa Kỳ, do lịch sử ngắn và cũng do tinh thần cộng hòa, việc giảng dạy ưu tiên giới thiệu thành tựu, thông qua các điển phạm (canon).
Xin trở lại với đề tài của chúng ta. Quan niệm về văn hoá của Humboldt rất đặc trưng cho thời hiện đại, với niềm tin tuyệt đối vào lý trí, vào con người với tư cách là chủ thể độc lập có khả năng cải tạo và thống trị xã hội và thiên nhiên. Cũng giống như lý trí, văn hoá được hiểu như là cái gì đó phổ quát, phi giai cấp. Quan niệm về văn hóa và vai trò của văn hóa như vậy có ảnh hưởng rất lớn ở Châu Âu. Cùng với sự lan tỏa của văn hoá Châu Âu, quan niệm như vậy cũng có ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới. Câu nói chúng ta thường nghe: “Chị ấy là người có văn hóa”, hay “Hắn là một kẻ vô văn hóa” chính là một biểu hiện của quan niệm này.
Trong trường đại học theo mô hình của Humboldt, người thầy, đóng vai trò chủ đạo. Người thầy lý tưởng là người có văn hoá cao, người đã được khai sáng và có sứ mệnh khai sáng cho sinh viên. Nghiên cứu lịch sử cúa trường đại học trên thế giới, chúng ta thấy trong nhiều trường hợp toàn bộ tinh thần của trường kết tinh ở một vị giáo sư - thường là thầy hiệu trưởng.
Tuy nhiên, trào lưu toàn cầu hoá đang làm thay đổi sâu sắc tính chất các trường đại học hiện đại. Những ai từng giảng dạy ở các trường đại học phương Tây đều có thể dễ dàng nhận thấy một hiện tượng là nhiều sinh viên rất thông minh, rất giỏi về chuyên ngành hẹp của mình, nhưng hiểu biết chung về văn hoá, xã hội, lịch sử rất kém. Đó là vì ở phương Tây, hiện nay các trường đại học văn hóa theo hình mẫu của Humboldt đang biến mất để nhường chỗ cho các trường đại học - doanh nghiệp mà tư tưởng chủ đạo là doanh thu chứ không phải là lý trí hay văn hoá. Bill Readings, trong cuốn Trường đại học trong đống đổ nát Readings, Bill, The University in Ruins, Cambridge : Harvard UP, 1996, lập luận rằng cùng với sự lớn mạnh của các tập đoàn xuyên và đa quốc gia, nhà nước - dân tộc đang suy tàn. Ngày nay, các trường đại học phương Tây đang dần biến thành các trung tâm đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp và những người tiêu thụ tiềm năng trong tương lai thay vì đào tạo những chủ thể văn hóa dân tộc.
Câu hỏi đặt ra là: Làm sao có thể có dân chủ nếu như người dân bị biến thành những cỗ máy lao động và tiêu thụ chứ không được đào tạo để suy nghĩ như những chủ thể tư duy độc lập?
Rất nhiều người, trong đó có tôi, cho rằng đây cũng là vấn đề lớn nhất của giáo dục đại học hiện đại.
Nguồn: dddn.com.vn, 14/09/2006








