Cyclosporin một sản phẩm sinh học cần cho cấy ghép tạng
Dựa vào các mẫu đất có xuất xứ rõ rệt, trong thế kỷ qua, các chuyên gia của Công ty Dược phẩm Sandoz tập trung sức phân tích thử nghiệm để tìm các kháng sinh mới.
Ròng rã 15 năm kiên trì với bao tốn kém, qua hàng ngàn cuộc thử nghiệm, năm 1972, Jean Borel, một chuyên viên tài giỏi của Sandoz đã phát hiện một kháng sinh ký hiệu là 24-556 từ nấm Tolypocladium inflatum. Nấm này tìm thấy trong các mẫu đất lấy ở Wisconsin (Hoa Kỳ) và vùng Hardanger Vidda (Na Uy).
Thật là quá thất vọng! Mang tiếng là kháng sinh nhưng chất 24-556 chỉ có hiệu quả diệt khuẩn nhẹ ở một số trường hợp nhiễm khuẩn thông thường. Thế nhưng chất này lại có một ưu điểm đặc biệt là gần như không có tác hại gì đến sức khỏe của súc vật thí nghiệm. Đặc điểm hiếm có này khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu chức năng tiềm tàng trong chất sinh học này.
Trong khi ấy, trong lĩnh vực ghép mô tạng, năm 1957, Chính phủ Hoa Kỳ đã ra lệnh đình chỉ mọi cuộc thử nghiệm, thực hiện cấy ghép vì tỷ lệ thất bại do phản ứng loại thải bộ phận cho quá lớn.
Năm 1958, Jean Dausset tìm ra hệ miễn dịch H.L.A (Human Leukocyte Antigen) ở người. Từ đây các nhà khoa học giải thích được cơ chế loại bỏ mảnh ghép ở người nhận.
Khám phá của Dausset đã thu hút các công ty dược hướng nghiên cứu của mình vào việc đi tìm dược chất làm suy giảm hệ miễn dịch (Immunosuppressant).
Công ty Sandoz đang loay hoay với chất 24-566 vì tính kháng sinh yếu không giá trị của nó và chuyển hướng nghiên cứu vào các chất làm suy giảm miễn dịch. Ngay lần thử nghiệm đầu tiên, thành công đã mỉm cười với họ, chất 24-556 gồm một dây peptit có amino axit đã có hiệu quả làm suy giảm hệ miễn dịch, đáp ứng yêu cầu của các chuyên viên cấy ghép mô tạng.
Trước đó đã có nhiều dược chất có khả năng làm suy giảm hệ miễn dịch, nhưng lại làm suy giảm toàn bộ hệ miễn dịch khiến bệnh nhân tử vong vì mắc phải bệnh nhiễm trùng mới. Chất 24-556 có tác dụng chọn lọc, nó chỉ kết dính với những bạch cầu của người nhận có liên quan đến việc tấn công vào bộ phận được cấy ghép, nó không tác động vào những bạch cầu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, vì thế không có hiện tượng suy giảm miễn dịch toàn thân. Từ đây, thị trường gọi chất 24-556 là cyclosporin.
Mọi cuộc cấy ghép trên thế giới đều sử dụng cyclosporin và kết quả thành công đạt được trên 80%. Cyclosporin trở thành cứu tinh của bệnh nhân và là cây đũa thần mầu nhiệm của các nhà phẫu thuật. Nhờ có cyclosporin, các nhà khoa học đã mạnh dạn tiến hành các ca ghép phức tạp gan, tim, phổi…
Với cyclosporin, các nhà phẫu thuật trở nên táo bạo hơn, họ tiến sang lĩnh vực dị ghép, một lĩnh vực tiếp cực ranh giới đạo đức y học bị nhiều tranh cãi. Các nhà phẫu thuật tiến hành các ca ghép bộ phận của loài có móng sang cơ thể loài sinh trưởng, trong đó có con người. Trong một thử nghiệm được mọi người chú ý là việc ghép tim heo chuyển gen cho khỉ, tim heo đã tồn tại được từ 30 – 60 ngày. Đây được coi như một bước thành công, vì nếu không sử dụng cyclosporin và tim heo chưa được chuyển gen, cơ thể của khỉ sẽ loại bỏ tim heo trong vài phút.
Cyclosporin được các nhà phẫu thuật ưa chuộng vì nó có một tiện lợi khác là có thể sử dụng qua đường uống. Doanh số bán ra hàng năm đã vượt quá con số tỷ đô la.
Các nhà khoa học cho rằng khám phá ra cyclosporin là một ấn tượng lịch sử y học. Nhờ có cyclosporin, khoa cấy ghép mô tạng mới đạt được vị trí trình độ tiến bộ như hiện nay.








