Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 23/07/2009 15:23 (GMT+7)

Cuộc đọ sức và 3 người khổng lồ (Tiếp theo kỳ trước)

Ấn Độ và Nam Á

Ở mức tăng trưởng 3,9%/năm, với sản lượng sữa năm 2004 đạt 90,4 triệu tấn, Ấn Độ đã nổi lên là nước sản xuẩt sữa đứng hàng số 1 thế giới. Chăn nuôi nhiều gia súc nhai lại, khẩu phần ăn truyền thống của nhân dân là sản phẩm sữa, nền kinh tế đang tăng trưởng nên dự đoán chăn nuôi gia súc lấy sữa ở Ấn Độ còn tiếp tục phát triển nhanh. Sản xuất sữa của Ấn Độ vẫn là sản xuất quy mô nhỏ nhưng những cơ sở lớn và đầu tư thiết bị ngoại vẫn tiếp tục được duy trì. Hơn thế nữa, các phong trào hợp tác sản xuất, ví dụ tổ chức hội đồng quốc gia về phát triển sữa đã gắn kết những người sản xuất nhỏ với thi trường đô thị rộng lớn rất hiệu quả; Đã cung cấp thức ăn, vật tư thú y và kiến thức cơ bản thâm canh chăn nuôi bò sữa cho các hộ chăn nuôi. Chăn nuôi bò sữa ở Ấn Độ chủ yếu dựa vào các nguồn thức ăn thô xanh (đồng cỏ, phụ phẩm trồng trọt) và nếu có thức ăn tinh thì đó là phụ phẩm chế biến nông sản. Việc tiếp tục sản xuất sữa ở Ấn Độ một phần sẽ phụ thuộc vào nguồn thức ăn sẵn có.

Mặc dù sản xuất phát triển nhanh và còn nhiều tiềm năng nhưng sản phẩm sữa của Ấn Độ khó thâm nhập thị trường thế giới chính vì lý do chất lượng và an toàn thực phẩm, một thực tế đặc thù của Ấn Độ là hàng triệu hộ sản xuất nhỏ lẻ đều tham gia màng lưới cung cấp thực phẩm, các chất tồn dư thức ăn gia súc không phải là cá biệt nhưng khó kiểm nghiệm.

Những thập kỉ vừa qua chăn nuôi gia cầm tăng gấp 3, mức tăng trưởng 12%/năm, sản xuất chính đều đặn tăng 2,8%. Kể từ năm 1997 đến nay tổng số gia cầm đã tăng 33,8%, từ 368 triệu, đến năm 2003 đã lên đến 489 triệu con. Từ năm 1998 thịt gà được coi trọng hơn thịt dê, cừu. Việc tăng mức tiêu thụ thịt gia cầm liên quan đến thay đổi tập quán ăn uống ở Ấn Độ, một bộ phận nhỏ dân chúng đã từ bỏ khẩu phần ăn chủ yếu từ nguồn thực vật, nhiều người trong tầng lớp trẻ đang sử dụng thức ăn chế biến sẵn.

Quá trình phát triển chăn nuôi gia cầm ở Ấn Độ không liên tục, nghĩa là không đi theo trình tự điển hình từ chăn nuôi hộ nhỏ lẻ từng bước tiến lên chăn nuôi thâm canh, quy mô lớn. Khi thị trường thành phố mở rộng, ngay lập tức xuất hiện một giai đoạn phát triển mới, những nhà đầu tư vốn trước đây không liên quan đến chăn nuôi gia cầm đứng ra thành lập những cơ sở sản xuất quy mô công nghiệp kết hợp với chế biến và tiếp thị. Chăn nuôi gà trứng và gà thịt ở Ấn Độ có nhiều quy mô khác nhau những người sản xuất quy mô lớn đã làm cho những người sản xuất nhỏ bị thua thiệt. Tình hình này đã nhanh chóng thay đổi cơ cấu sản xuất gia cầm ở nhiều vùng; chỉ riêng 3 bang Andria Pradesh, Tamil Nau và Tây Bengal, số lượng gia cầm của họ đã bằng 51% tổng đàn của cả nước. Trong lúc những người sản xuất độc lập quy mô nhỏ đang đảm nhiệm khối lượng lớn sản phẩm thì ở một vài vùng thị phần của những người sản xuất tổng hợp quy mô lớn cũng đang dần dần chiếm ưu thế. Các xí nghiệp liên hợp bao gồm các trại vùng tổ chức sản xuất đủ các khâu từ nuôi gà bố mẹ, nuôi gà thịt, sản xuất thức ăn, cung cấp dịch vụ thú y đến tiếp thị. Khác với các nước châu Á và Đông Nam Á, Ấn Độ chưa phải nhập khẩu ngũ cốc để sản xuất thức ăn cho phát triển chăn nuôi bò sữa và chăn nuôi gia cầm. Cho đến thời điểm hiện tại, một lượng lớn ngũ cốc hạn chế sản xuất trong nước kết hợp với tận dụng tối đa phụ phẩm chế biến nông sản, Ấn Độ đang có đủ thức ăn gia súc. Sở dĩ đạt được mức độ như vậy là vì mức tiêu thụ thịt ít, nhưng nếu mức tiêu thụ thịt tăng thì liệu cách giải quyết trên có đối phó được không?

Học tập theo gương Ấn Độ, dân chúng ở các nước láng giềng của Ấn Độ như Pakistan, Bangladesh, Nepal và Sri Lanka sừ dụng sữa nhiều hơn thịt. Pakistan , một nước tuyệt đại đa số dân chúng theo đạo Hồi có mức tiêu thụ thịt gia súc nhai lại tương đối cao, mức tiêu thụ này đang tăng. Cơ cấu chăn nuôi của Bangladesh phát chiển theo hướng tổ chức hợp tác xã. Chăn nuôi bò sữa và dê, cừu chủ yếu vẫn là hộ cá thể quy mô nhỏ.

Braxin và Nam Mỹ

Hiện nay, Braxin là nước đứng hàng thứ 2 về xuất khẩu thịt, tương lai sẽ là nước xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi hàng đầu thế giới. Braxin đang nổi tiếng là nước xuất khẩu quan trọng các sản phẩm sữa, thịt lợn, thịt gà và thịt bò.

Xuất khẩu thịt gà, thịt bò và thịt lợn bằng 20,7%; 12,8%; 6,4% tổng sản phẩm tương ứng xuất khẩu của thế giới.

Thập niên vừa qua xuất khẩu thịt gà tăng gấp 3 và thịt lợn tăng 11 lần. Sản lượng thịt lợn, thịt gà, thịt bò, sữa, thịt dê, cừu của Braxin bằng 71%; 70%; 60%; 50%; 35% sản lượng tương ứng của tất cả các nước Nam Mỹ cộng lại.

Sự kết hợp giữa nguồn đất đai dồi dào với sự phát triển mới đây về cơ sở hạ tầng đã biến những vùng đất xa xôi trước đây như Mato Grosso và Cerrado ở miền Trung Braxin thành nơi sản xuất thức ăn gia súc trù phú, với giá ngô và đậu tương rẻ nhất thế giới. Bắt đầu từ trước những thập kỷ 90, những người sản xuất Braxin đã đề ra chiến lược khai thác lợi thế của họ. Thôi không sản xuất ngô và đậu tương để xuất khẩu mà họ biến thức ăn gia súc của họ thành sản phẩm chăn nuôi xuất khẩu gia tăng, do vậy, cơ cấu sản lượng sản phẩm chăn nuôi của Braxin đang thay đổi.

Một số nước khác ở châu Mỹ La Tinh có truyền thống xuất khẩu như Urugoay và Achentina, nay vẫn tiếp tục giữ vững vai trò chủ đạo, một số nước khác trồi dậy nhờ lợi thế về đất đai và an toàn dịch bệnh như Chilê và Mehico.

Châu Phi

Mặc dù châu Phi là một trong những lục địa có nhiều nguồn thức ăn gia súc nhưng lại không theo kịp cuộc cách mạng chăn nuôi đã từng diễn ra tại các nước đang phát triển. Trong thập kỷ qua, chăn nuôi không phát triển kịp với nhịp độ tăng dân số nên hậu quả là châu Phi trở thành nơi chuyên nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi. Tính trên toàn bộ châu Phi, mức tăng sản xuất hàng năm về thịt, sữa, trứng tương ứng bằng 2,6%; 3,0%; và 2,5%; nhưng mức tiêu thụ bình quân đầu người tương ứng với các sản phẩm trên là 0,3%; 0,7% và 0,2%. Tuy vậy, mức tiêu thụ tại các nước Bắc Phi đang tăng, chủ yếu dựa vào nguồn nhập khẩu. Ở toàn vùng Cận – Saharamức tiêu thụ thịt, trứng, sữa vẫn đã thấp, thế mà không những không tăng lại còn giảm xuống thấp hơn.

Năm 1980, mức tiêu thụ thịt, sữa, trứng bình quân đầu người tương ứng bằng 12,5 kg; 24,8 kg và 1,3 kg, đến năm 2002 giảm xuống còn 11,4 kg; 24,2 kg và 1,3 kg. Nguyên nhân của tình hình này là do dân số tăng nhanh cộng với các nhân tố tác động khác nhau như giống vật nuôi năng suất thấp, dịch bệnh, thiếu thức ăn, chế độ chính sách không thích hợp.

Châu Phi nhập tất cả các sản phẩm chăn nuôi, trừ da bò và da thú. Chiều hướng nhập khẩu còn tiếp tục tăng. Năm 2003 giá trị hàng chăn nuôi nhập khẩu là 2.258 triệu đô la.

Lượng hàng nhập khẩu của các nước Bắc Phi như Angieri, Aicập, Libi, Tunizi và Maroc chiếm 40% tổng lượng hàng nhập khẩu vào châu Phi, phần còn lại thuộc về các nước vùng Cận – Sahara trong đó có Nam Phi. Các nước châu Phi đấu tranh không nhập khẩu hàng từ liên minh châu Âu, đang tăng cường nhập hàng của Braxin.

Tuy nhiên, trong bối cảnh trên đã nổi lên một số điển hình thành công như Botswana, Namibia và Nam Phi đã thâm nhập đựơc nhiều thị trường giá trị cao của các nước đã phát triển. Mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi bình quân đầu người ở đây đang tăng. Ví dụ, vùng Đông Phi có Kenya là nước có vị thế sản xuất sữa vững chắc, tiêu thụ sữa bình quân đầu người cao nhất vùng Cận – Sahara, đạt 83,4 kg/người/năm.

Vùng Cận đông

Mặc dù 80% đất canh tác là đồng cỏ chăn nuôi, các nước vùng Cận đông nhập khẩu tất cả các sản phẩm chăn nuôi. Mức tăng sản xuất không đáp ứng đủ mức tăng tiêu dùng vì các nguyên nhân như dân số tăng nhanh, đồng cỏ bị thu hẹp, hạn hán và các dịch bênh xẩy ra thường xuyên. Ở vùng này sản xuất trì trệ nhưng mức tiêu dùng tăng chủ yếu do nhập khẩu. Vùng này là vùng nhập nhiều sản phẩm chăn nuôi. Năm 2002 nhập 1,296 triệu tấn thịt; 3,855 triệu tấn sữa và 47 triệu tấn trứng tương ứng bằng 16,3%; 40,8% và 6% nhu cầu từng mặt hàng trên. Chiều hướng nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi vùng này đang tăng. Vùng này cũng nhập khẩu cả súc vật sống. Năm 2003 nhập 11,9 triệu cừu, dê, 500 nghìn con bò với giá trị hàng hoá bằng 1,205 triệu đô la.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.