Cuộc đọ sức và 3 người khổng lồ (Tiếp theo kỳ trước)
Ấn Độ và Nam Á
Ở mức tăng trưởng 3,9%/năm, với sản lượng sữa năm 2004 đạt 90,4 triệu tấn, Ấn Độ đã nổi lên là nước sản xuẩt sữa đứng hàng số 1 thế giới. Chăn nuôi nhiều gia súc nhai lại, khẩu phần ăn truyền thống của nhân dân là sản phẩm sữa, nền kinh tế đang tăng trưởng nên dự đoán chăn nuôi gia súc lấy sữa ở Ấn Độ còn tiếp tục phát triển nhanh. Sản xuất sữa của Ấn Độ vẫn là sản xuất quy mô nhỏ nhưng những cơ sở lớn và đầu tư thiết bị ngoại vẫn tiếp tục được duy trì. Hơn thế nữa, các phong trào hợp tác sản xuất, ví dụ tổ chức hội đồng quốc gia về phát triển sữa đã gắn kết những người sản xuất nhỏ với thi trường đô thị rộng lớn rất hiệu quả; Đã cung cấp thức ăn, vật tư thú y và kiến thức cơ bản thâm canh chăn nuôi bò sữa cho các hộ chăn nuôi. Chăn nuôi bò sữa ở Ấn Độ chủ yếu dựa vào các nguồn thức ăn thô xanh (đồng cỏ, phụ phẩm trồng trọt) và nếu có thức ăn tinh thì đó là phụ phẩm chế biến nông sản. Việc tiếp tục sản xuất sữa ở Ấn Độ một phần sẽ phụ thuộc vào nguồn thức ăn sẵn có.
Mặc dù sản xuất phát triển nhanh và còn nhiều tiềm năng nhưng sản phẩm sữa của Ấn Độ khó thâm nhập thị trường thế giới chính vì lý do chất lượng và an toàn thực phẩm, một thực tế đặc thù của Ấn Độ là hàng triệu hộ sản xuất nhỏ lẻ đều tham gia màng lưới cung cấp thực phẩm, các chất tồn dư thức ăn gia súc không phải là cá biệt nhưng khó kiểm nghiệm.
Những thập kỉ vừa qua chăn nuôi gia cầm tăng gấp 3, mức tăng trưởng 12%/năm, sản xuất chính đều đặn tăng 2,8%. Kể từ năm 1997 đến nay tổng số gia cầm đã tăng 33,8%, từ 368 triệu, đến năm 2003 đã lên đến 489 triệu con. Từ năm 1998 thịt gà được coi trọng hơn thịt dê, cừu. Việc tăng mức tiêu thụ thịt gia cầm liên quan đến thay đổi tập quán ăn uống ở Ấn Độ, một bộ phận nhỏ dân chúng đã từ bỏ khẩu phần ăn chủ yếu từ nguồn thực vật, nhiều người trong tầng lớp trẻ đang sử dụng thức ăn chế biến sẵn.
Quá trình phát triển chăn nuôi gia cầm ở Ấn Độ không liên tục, nghĩa là không đi theo trình tự điển hình từ chăn nuôi hộ nhỏ lẻ từng bước tiến lên chăn nuôi thâm canh, quy mô lớn. Khi thị trường thành phố mở rộng, ngay lập tức xuất hiện một giai đoạn phát triển mới, những nhà đầu tư vốn trước đây không liên quan đến chăn nuôi gia cầm đứng ra thành lập những cơ sở sản xuất quy mô công nghiệp kết hợp với chế biến và tiếp thị. Chăn nuôi gà trứng và gà thịt ở Ấn Độ có nhiều quy mô khác nhau những người sản xuất quy mô lớn đã làm cho những người sản xuất nhỏ bị thua thiệt. Tình hình này đã nhanh chóng thay đổi cơ cấu sản xuất gia cầm ở nhiều vùng; chỉ riêng 3 bang Andria Pradesh, Tamil Nau và Tây Bengal, số lượng gia cầm của họ đã bằng 51% tổng đàn của cả nước. Trong lúc những người sản xuất độc lập quy mô nhỏ đang đảm nhiệm khối lượng lớn sản phẩm thì ở một vài vùng thị phần của những người sản xuất tổng hợp quy mô lớn cũng đang dần dần chiếm ưu thế. Các xí nghiệp liên hợp bao gồm các trại vùng tổ chức sản xuất đủ các khâu từ nuôi gà bố mẹ, nuôi gà thịt, sản xuất thức ăn, cung cấp dịch vụ thú y đến tiếp thị. Khác với các nước châu Á và Đông Nam Á, Ấn Độ chưa phải nhập khẩu ngũ cốc để sản xuất thức ăn cho phát triển chăn nuôi bò sữa và chăn nuôi gia cầm. Cho đến thời điểm hiện tại, một lượng lớn ngũ cốc hạn chế sản xuất trong nước kết hợp với tận dụng tối đa phụ phẩm chế biến nông sản, Ấn Độ đang có đủ thức ăn gia súc. Sở dĩ đạt được mức độ như vậy là vì mức tiêu thụ thịt ít, nhưng nếu mức tiêu thụ thịt tăng thì liệu cách giải quyết trên có đối phó được không?
Học tập theo gương Ấn Độ, dân chúng ở các nước láng giềng của Ấn Độ như Pakistan, Bangladesh, Nepal và Sri Lanka sừ dụng sữa nhiều hơn thịt. Pakistan , một nước tuyệt đại đa số dân chúng theo đạo Hồi có mức tiêu thụ thịt gia súc nhai lại tương đối cao, mức tiêu thụ này đang tăng. Cơ cấu chăn nuôi của Bangladesh phát chiển theo hướng tổ chức hợp tác xã. Chăn nuôi bò sữa và dê, cừu chủ yếu vẫn là hộ cá thể quy mô nhỏ.
Braxin và Nam Mỹ
Hiện nay, Braxin là nước đứng hàng thứ 2 về xuất khẩu thịt, tương lai sẽ là nước xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi hàng đầu thế giới. Braxin đang nổi tiếng là nước xuất khẩu quan trọng các sản phẩm sữa, thịt lợn, thịt gà và thịt bò.
Xuất khẩu thịt gà, thịt bò và thịt lợn bằng 20,7%; 12,8%; 6,4% tổng sản phẩm tương ứng xuất khẩu của thế giới.
Thập niên vừa qua xuất khẩu thịt gà tăng gấp 3 và thịt lợn tăng 11 lần. Sản lượng thịt lợn, thịt gà, thịt bò, sữa, thịt dê, cừu của Braxin bằng 71%; 70%; 60%; 50%; 35% sản lượng tương ứng của tất cả các nước Nam Mỹ cộng lại.
Sự kết hợp giữa nguồn đất đai dồi dào với sự phát triển mới đây về cơ sở hạ tầng đã biến những vùng đất xa xôi trước đây như Mato Grosso và Cerrado ở miền Trung Braxin thành nơi sản xuất thức ăn gia súc trù phú, với giá ngô và đậu tương rẻ nhất thế giới. Bắt đầu từ trước những thập kỷ 90, những người sản xuất Braxin đã đề ra chiến lược khai thác lợi thế của họ. Thôi không sản xuất ngô và đậu tương để xuất khẩu mà họ biến thức ăn gia súc của họ thành sản phẩm chăn nuôi xuất khẩu gia tăng, do vậy, cơ cấu sản lượng sản phẩm chăn nuôi của Braxin đang thay đổi.
Một số nước khác ở châu Mỹ La Tinh có truyền thống xuất khẩu như Urugoay và Achentina, nay vẫn tiếp tục giữ vững vai trò chủ đạo, một số nước khác trồi dậy nhờ lợi thế về đất đai và an toàn dịch bệnh như Chilê và Mehico.
Châu Phi
Mặc dù châu Phi là một trong những lục địa có nhiều nguồn thức ăn gia súc nhưng lại không theo kịp cuộc cách mạng chăn nuôi đã từng diễn ra tại các nước đang phát triển. Trong thập kỷ qua, chăn nuôi không phát triển kịp với nhịp độ tăng dân số nên hậu quả là châu Phi trở thành nơi chuyên nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi. Tính trên toàn bộ châu Phi, mức tăng sản xuất hàng năm về thịt, sữa, trứng tương ứng bằng 2,6%; 3,0%; và 2,5%; nhưng mức tiêu thụ bình quân đầu người tương ứng với các sản phẩm trên là 0,3%; 0,7% và 0,2%. Tuy vậy, mức tiêu thụ tại các nước Bắc Phi đang tăng, chủ yếu dựa vào nguồn nhập khẩu. Ở toàn vùng Cận – Saharamức tiêu thụ thịt, trứng, sữa vẫn đã thấp, thế mà không những không tăng lại còn giảm xuống thấp hơn.
Năm 1980, mức tiêu thụ thịt, sữa, trứng bình quân đầu người tương ứng bằng 12,5 kg; 24,8 kg và 1,3 kg, đến năm 2002 giảm xuống còn 11,4 kg; 24,2 kg và 1,3 kg. Nguyên nhân của tình hình này là do dân số tăng nhanh cộng với các nhân tố tác động khác nhau như giống vật nuôi năng suất thấp, dịch bệnh, thiếu thức ăn, chế độ chính sách không thích hợp.
Châu Phi nhập tất cả các sản phẩm chăn nuôi, trừ da bò và da thú. Chiều hướng nhập khẩu còn tiếp tục tăng. Năm 2003 giá trị hàng chăn nuôi nhập khẩu là 2.258 triệu đô la.
Lượng hàng nhập khẩu của các nước Bắc Phi như Angieri, Aicập, Libi, Tunizi và Maroc chiếm 40% tổng lượng hàng nhập khẩu vào châu Phi, phần còn lại thuộc về các nước vùng Cận – Sahara trong đó có Nam Phi. Các nước châu Phi đấu tranh không nhập khẩu hàng từ liên minh châu Âu, đang tăng cường nhập hàng của Braxin.
Tuy nhiên, trong bối cảnh trên đã nổi lên một số điển hình thành công như Botswana, Namibia và Nam Phi đã thâm nhập đựơc nhiều thị trường giá trị cao của các nước đã phát triển. Mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi bình quân đầu người ở đây đang tăng. Ví dụ, vùng Đông Phi có Kenya là nước có vị thế sản xuất sữa vững chắc, tiêu thụ sữa bình quân đầu người cao nhất vùng Cận – Sahara, đạt 83,4 kg/người/năm.
Vùng Cận đông
Mặc dù 80% đất canh tác là đồng cỏ chăn nuôi, các nước vùng Cận đông nhập khẩu tất cả các sản phẩm chăn nuôi. Mức tăng sản xuất không đáp ứng đủ mức tăng tiêu dùng vì các nguyên nhân như dân số tăng nhanh, đồng cỏ bị thu hẹp, hạn hán và các dịch bênh xẩy ra thường xuyên. Ở vùng này sản xuất trì trệ nhưng mức tiêu dùng tăng chủ yếu do nhập khẩu. Vùng này là vùng nhập nhiều sản phẩm chăn nuôi. Năm 2002 nhập 1,296 triệu tấn thịt; 3,855 triệu tấn sữa và 47 triệu tấn trứng tương ứng bằng 16,3%; 40,8% và 6% nhu cầu từng mặt hàng trên. Chiều hướng nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi vùng này đang tăng. Vùng này cũng nhập khẩu cả súc vật sống. Năm 2003 nhập 11,9 triệu cừu, dê, 500 nghìn con bò với giá trị hàng hoá bằng 1,205 triệu đô la.








