Công nghệ thuỷ tinh xưa và nay
Giai thoại kể rằng, cách đây đã 3 - 4 ngàn năm, ở một vùng sa mạc, một người du canh đã dùng ba hòn đá lạ ấy, cát phía dưới bị chảy ra và đông lại thành một chất óng ánh mà chúng ta ngày nay gọi gọi là thuỷ tinh. Sau này, khoa học chứng minh rằng nếu cho thêm natrie vào thì silic có thể nóng chảy ở ngay nhiệt độ 1500 độ C chứ không phải ở 2000 độ C. Đó là chuyện phát minh ra thuỷ tinh. Không có kỹ thuật thổi thuỷ tinh thì không bao giờ có những chiếc bình, lọ hay cốc được. Người Xyri đã nghĩ ra kỹ thuật đó. Và vì phát minh này, họ bị bắt sang La Mã để hành nghề và truyền bí quyết. Khi Fules Cesar chinh phục xứ Gaule (nay là đất Pháp) thì những người Gôloa thông minh đã nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật này và trở thành những nghệ nhân làm đồ thuỷ tinh tài ba. Từ đó tới thế kỷ thứ III, kỹ thuật thuỷ tinh của người Gôloa đứng đầu thế giới. Họ không chỉ chế ra những chai lọ, ly cốc thông thường mà còn biết làm chúng ở những hình dáng khác nhau, biết mài, chạm khắc và mạ vàng lên chúng. Những chiếc ly ra đời, cao thấp đủ loại, ly không chân, cốc vại, ly hình sừng dê để buộc người cầm cốc phải cạn chén mới được đặt xuống bàn...
Khi cuộc xâm lăng của rợ hung nô vào xứ Gaule, nghề thuỷ tinh bị mai một, đồ thuỷ tinh trở nên thô thiển, chất lượng xuống cấp nghiêm trọng. Chỉ có một số nhà thờ vẫn khuyến khích những tay thợ cừ khôi sản xuất đồ cúng tế, những bình rượu lễ, bình đựng tro hoả táng với chất lượng cao. Nhưng chỉ rất lâu sau, giáo hội Cơ đốc cấm dùng đồ thuỷ tinh trong vắt kia vì họ cho rằng đó là ma quỷ hiện hình. Người ta đem thuỷ tinh để ở trước cửa ra vào để xua đuổi tà ma. Thời đó, đồ thuỷ tinh duy nhất không bị cấm đoán là cái... bô đựng nước tiểu và những cái bình trong suốt để chẩn đoán bệnh tật.
Trong khi đó, ở phương Đông, đạo Hồi không phản đối đồ thuỷ tinh nên thợ thủ công Xyri lại trở thành những nghệ nhân được ưu đãi, làm cho nghề này lại nở rộ như hoa xuân. Sau này, những cuộc thập tự chinh đã mở mắt cho người phương Tây về sự tinh tế, độc đáo và kỹ xảo tuyệt vời của người thợ phương Đông. Người châu Âu nào có được một vài đồ bằng thuỷ tinh sản xuất ở Đamat được coi là người cực kỳ sang trọng. Vào thế kỷ 13, Venise nổi lên như một cường quốc vùng Địa Trung Hải. Venise nhập cát từ Trung Đông và bắt luôn cả thợ giỏi về hành nghề ở đảo Murano nhằm tránh hoả hoạn cho thành phố. Đảo này biến thành một trung tâm sản xuất đồ thuỷ tinh chuyên nghiệp. Những “tù nhân” đặc biệt kia được đối đãi hết sức tử tế, được cấp bổng lộc rất hậu và có chính sách ưu đãi riêng. Nhờ vậy, Venise trở thành một xứ sở thuỷ tinh nổi tiếng thế giới, chất lượng thuỷ tinh ở đây có độ trong suốt, hình thức tao nhã, màu sắc hài hoà, được đánh giá gần ngang với kim cương. Những người thợ giỏi ấy phải chấp nhận suốt đời sống trên đảo để giữ độc quyền bí quyết. Nhưng về sau, xứ Bôhêmia với loại cát giàu thạch anh cũng nổi lên cạnh tranh và làm ra những đồ thuỷ tinh trứ danh. Rồi người Pháp cũng lần mò tìm ra bí quyết, họ lấy cát vùng Estampes về làm thuỷ tinh nhưng chất lượng không cao. Kiến trúc gôtích đòi hỏi phải có những tấm kính lớn để trang trí cho các cửa vòm. Vì thế, nghệ thuật trang trí kính của Pháp rất phát triển và khó có nước nào sánh kịp. Sang thế kỷ 14, các loại ly rượu ra đời, mỗi nơi sản xuất một kiểu và đặc biệt lúc này đã có sự phân biệt loại ly nào dùng cho rượu nào. Các nghi thức uống rượu bắt đầu ra đời: chẳng hạn, khi sắp uống không được nói chuyện, vừa uống vừa lau miệng ra sao, cầm ly một tay và cầm bằng tay nào, khi nào... hoặc phải để khách uống trước rồi chủ nhà mới cạn chén; có loại cốc dùng cho một người, có loại dùng cho nhiều người... Dưới thời vua Charles VI (thế kỷ 14), thợ thuỷ tinh được trọng vọng và ưu đãi đặc biệt. Họ có quyền hành như quý tộc, được miễn quân dịch, miễn một số thuế nặng. Nhờ thế, nghề thuỷ tinh Pháp đến thời vua Henri IV (thế kỷ 16) đạt những thành tựu tuyệt vời trong kỹ thuật tráng gương và thuỷ tinh phẳng. Chính phòng gương trong điện Versailles được làm theo phương pháp của thời kỳ này, do gia đình Bernard Perrot nghĩ ra. Sang thế kỷ 17, kỹ thuật Bernard Perrot được hoàn thiện thêm và dẫn đến việc thành lập nhà máy kính hoàng gia Pháp (Manufacture Royal des Glaces de France). Là hàng xóm của Pháp, người Anh khó chịu khi không tự sản xuất được ly uống rượu mà phải nhập từ Pháp. Nhưng nhà vua khi đó là Jacques Stuart lại cấm dùng gỗ làm chất đốt nên họ phải dùng than. Khói than gây đục thuỷ tinh nên sản phẩm không đủ chất lượng như mong muốn. Sau này, người Anh phát minh ra phương pháp trộn ôxít chì vào làm cho thuỷ tinh trở nên trong suốt và tiếng kêu thánh thót hơn nhiều. Thế là người Pháp bèn chộp ngay phát minh đó, thành lập xưởng pha lê nổi tiếng Baccarat vào năm 1764. Xưởng này chuyên làm đồ dùng cho triều đình, các hoàng tộc và sau này cho cả các quốc phủ của nhiều nước trên khắp thế giới.
Khi vua Napoleon Đệ nhất tuyên bố thành lập Đế chế thứ nhất, chế độ tư sản đi vào thời thịnh vượng cùng những tập tục ăn uống hết sức cầu kỳ. Xưởng pha lê Saint - Louis ở Pháp bắt đầu nổi danh trong làng pha lê mỹ nghệ, cung cấp các loại ly, đĩa, bát pha lê hảo hạng cho cung đình và giới quý tộc. Thời đó, vì lễ nghi ăn uống cầu kỳ, trong một bữa có khi phải thay đổi đồ ăn tới cả chục lần, rất tốn ly, bát. Cùng lúc, những xưởng pha lê khác cũng nổi lên như sao sáng từ thế kỷ 19 như Đaiem ở Nancy và Lalique ở Combs-la Ville. Đầu thế kỷ 20, hai xưởng này chuyên môn hoá trong các đồ pha lê mỹ nghệ. Từ đó đến nay đã thêm 1 thế kỷ nữa, mặt hàng pha lê Pháp vẫn giữ được vị trí cao trên thế giới, cung cấp đồ dùng ăn uống cho nhiều nhà bếp hoàng gia hay phủ tổng thống ở khắp thế giới. Mỗi năm, người Pháp xuất khẩu tới 60% tổng sản phẩm thuỷ tinh. Công nghệ pha lê của Pháp thuộc vào loại sớm nhất thế giới và hầu như không có đối thủ cho đến tận đầu thế kỷ 21 này.
Nguồn: T/c Hoá học và ứng dụng, số 4, 2006, tr 11








