Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 13/03/2006 14:46 (GMT+7)

Cơ giới hóa thu hoạch lúa - vấn đề bức thiết

Nhu cầu cơ giới hóa đang ngày càng cấp bách

Đầu thế kỷ 21, do sự phát triển tăng tốc của nền kinh tế thị trường cùng với nhu cầu phát triển đô thị ngày càng mạnh mẽ, thanh niên nông thôn có xu hướng tập trung tìm việc làm ở các đô thị. Bên cạnh đó, một số không nhỏ đi xuất khẩu lao động; số khác tuy ít hơn nhưng rất đáng kể là số chị em xa quê lấy chồng Đài, chồng Hàn. Chính vì lẽ này, lao động nông nghiệp trở nên ngày càng khan hiếm; khan hiếm trầm trọng; đặc biệt ở khâu cắt lúa.

Vì thiếu nhân công, gia công cắt lúa ngày một tăng, vụ hè thu vừa qua có nơi công cắt lúa lên đến 80.000-100.000 đồng/công. Để giải bài toán nhân công, việc cày bừa, bơm, tưới, đập lúa đã được cơ giới hóa (để máy làm thay người) gần như toàn bộ, chỉ còn khâu thu hoạch lúa vẫn phải lao động chân tay.

Nhằm xóa bỏ bất cập này, cho tới nay 1.800 máy cắt lúa xếp thành dãy (loại máy cắt, đẩy bằng tay) đã đến với nông dân ĐBSCL nhưng số lượng máy này mới chỉ thu hoạch được khoảng 5% sản lượng lúa ở ĐBSCL; còn lại vẫn phải thu gom bằng tay. Một máy xếp thành dãy cần tới 20 nhân công chạy theo thu gom, chuyển tới máy đập; có nghĩa là cơ giới hóa thu hoạch mới chỉ dừng ở gặt chứ chưa làm luôn phần đập khiến cho tỷ lệ hao hụt vì thế còn cao.

Nhiều giải pháp cơ giới hóa thu hoạch lúa tiên tiến hơn đã và đang được các nhà khoa học, các công ty cơ khí quốc gia, các cơ sở cơ khí địa phương và cả nông dân cùng dốc công sức, tiền của để nghiên cứu. Nhiều kiểu máy gặt đập liên hợp đã được chế tạo đánh dấu thời hoàng kim của loại máy này!

Giấc mơ gặt đập liên hợp

Xuất phát từ nhu cầu bức xúc của việc cơ giới hóa thu hoạch lúa, như đã nói ở trên, trong những năm gần đây, nhiều cơ sở cơ khí nhỏ và hộ nông dân đã mày mò nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy gặt đập liên hợp. Có thể kể đến: các cơ sở cơ khí nhỏ của ông Nguyễn Văn Đền (Hai Đền - Đồng Tháp), ông Phan Tấn Bện (Đồng Tháp), ông Bùi Hữu Nghĩa (Long An) , ông Nguyễn Văn Cảnh (An Giang), ông Trần Đức Thành (Khánh Hòa), ông Nguyễn Văn Xuân (Khánh Hòa)... Ngoài ra còn có các nông dân như ông Nguyễn Đức Hoàng (An Giang), ông Nguyễn Bảo Thủ (Long An)...

Có người thành công, có người thất bại, có người trở thành anh hùng lao động thời đổi mới như ông Bùi Hữu Nghĩa (Chín Nghĩa -Long An) nhưng cũng có người trắng tay sau giấc mơ "gặt đập liên hợp" không thành như trường hợp ông Nguyễn Văn Đền (Đồng Tháp).

Trong khoảng tám năm, từ năm 1993 đến 2001, ông Hai Đền đã làm tới 3 mẫu máy gặt đập liên hợp. Mẫu thứ nhất nặng 5,1 tấn với bề rộng làm việc 3m nên không vận hành được, vì thế ông hủy bỏ để làm mẫu thứ hai với bề rộng làm việc chỉ còn 2m, nhưng ngay khi thử máy do bánh xe nhỏ không đủ độ bám nên không di chuyển được trên đồng. ông Hai Đền lại hủy bỏ để cải tiến thành mẫu thứ ba. Mẫu này ông sản xuất tới 10 máy và bán được hết nhưng sau đó toàn bộ số máy bán được đã bị người mua trả lại do hư hỏng nhanh.

Hiện nay, ông Hai Đền đã chấm dứt việc chế tạo máy gặt đập liên hợp.

Nhận đinh về những "máy "gặt đập liên hợp" kiểu này, Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sinh thái học viết: "Nhìn chung, các loại máy gặt đập liên hợp do nông dân và các cơ sở cơ khí nhỏ chế tạo đều dựa trên cơ sở tận dụng các loại hộp số, khung gầm ôtô sẵn có. Việc chế tạo chủ yếu dưới dạng gióng dựng đơn chiếc. Một số ít có khả năng làm việc được nhưng chỉ trong những điều kiện nhất định nên khó có thể trở thành sản phẩm hàng hóa".

Nông dân "phản biện" nhà khoa học

Kinh tế trang trại cùng với việc tích tụ đất đai một cách hợp pháp đã tạo nên nhiều cánh đồng bạt ngàn. Chị Trà, một nông dân ở ấp kinh 4 Bình Giang, Hòn Đất, Kiên Giang, chủ sở hữu 100 ha đất trồng lúa phát biểu trong diễn đàn: "Nông dân chúng tôi tới đây là để cảm ơn các nhà khoa học, các doanh nghiệp đã mang máy tới cho chúng tôi. Tuy nhiên, đất rộng, máy cắt đập liên hợp chúng ta sản xuất với công suất nhỏ, lại hỏng hóc thường xuyên nên chưa giải quyết được vấn đề và nếu không khéo tính toán, thì chỉ sau chừng 10 ngày 100 ha lúa chín có thể rụng trên đồng".

Tiến sĩ Phan Hiếu Hiền, công tác tại Đai học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, trả lời ngay: "Hơn 25 năm qua đã có không dưới 20 viện, trường, công ty, nhà máy cơ khí (cấp Trung ương hoặc cấp tỉnh) cho ra đời không dưới 20 mẫu máy gặt đập liên hợp. Những máy này được mang tới hội thi ở Nông trường Sông Hậu năm 1998. Các máy đã từng dự thi cũng như các máy của 15 năm trước và 5 năm sau này đều bị lún lầy không hoạt động được trong vụ hè thu (máy đang ngon trớn gặp chỗ lầy, "ổ trâu" không cứu lên được vì máy ngoại nhập có loại nặng tới 10 tấn, máy ta tự chế cũng có loại trên 5 tấn, đợi cứu được thì có khi đã lỡ thời vụ). Cho nên chị Trà thay vì mua một máy lớn thì có thể mua nhiều máy nhỏ, vì theo như chúng tôi đã khảo sát, trên đất lầy mới thấy rõ ưu thế tuyệt vời của máy nhẹ. Nếu máy có dấu hiệu bị lầy, chỉ cần người thợ vô bao phía sau nhảy khỏi máy sẽ làm máy nhẹ bớt 50 ký và như vậy sẽ vượt qua được vũng lầy. Trường hợp đất mềm (ruộng không chân, bùn ngập tới gối người lội) máy gặt đập liên hợp mini có bị lầy cũng chỉ cần 7 người hợp sức là có thể kéo máy khỏi chỗ lầy!".

Một nông dân khác, ông Linh (Tân Long, Ngã Nam , Sóc Trăng) nói: "Trong 100 người nông dân chắc gì đã có người mua nổi 1 máy, nói chi tới việc mua nhiều máy. Mỗi người chỉ có vài ha đất chứ không như bà Trà, vậy có nên bỏ mấy chục triệu mua máy gặt đập liên hợp không?".

Tiến sĩ Phan Hiếu Hiền trả lời: "Một nông dân có 1 ha ruộng, vẫn sắm cái máy cày 80 sức ngựa để cày ruộng nhà trong một ngày, sau đó làm thuê cho 100 nông dân khác để lấy lại vốn, rồi sinh lời. Bà con có thể học tập theo cách này. Với máy gặt đập liên hợp cũng vậy, không nhất thiết máy phải rẻ để mỗi nông dân có thể mua một cái mà điều cần nhất là máy phải tốt, phải bền để nông cụ đủ sức biến thành phương tiện kinh doanh, để dịch vụ hóa lao động nông nghiệp".

Dẫu "liên hợp" vẫn phải đi từng bước vững chắc

Biết rõ ưu thế của máy gặt đập liên hợp loại nhỏ, hiện có 15 đơn vị cung cấp mặt hàng này cho nông dân ĐBSCL. Trong đó, nổi bật là Công ty Chế tạo động cơ Vinappro (khu công nghiệp Biên Hòa, Đồng Nai) đang rao bán máy với giá 45 triệu và Công ty TNHH Phát triển khoa học kỹ thuật Hồ Nam, Trung Quốc rao bán máy với giá 9.000 USD.

Với một danh sách khá đông các nhà cung cấp và trước đòi hỏi gắt gao của việc liên hợp gặt đập để hoàn tất quá trình công nghiệp hóa toàn bộ quy trình sản xuất lúa nhưng cho tới thời điểm năm 2005, toàn vùng ĐBSCL mới chỉ có 33 máy gặt đập liên hợp hoạt động theo phân bổ, nhiều máy nhất là An Giang (11 máy) rồi tới Long An (9 máy), Cần Thơ (8 máy), Sóc Trăng (3 máy), các tỉnh Đồng nháp và Trà Vinh mỗi tỉnh chỉ có 1 máy, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau chưa có máy nào (theo thống kê của Tiểu hợp phần dự án Danida). So với nước bạn, ở Thái-lan, con số này là 5.000 máy trong cả nước.

Những con số thống kê trên khiến chúng ta phải tỉnh táo để nhìn nhận thực tiễn. Trên thực tế, trong vòng 10 năm tới, tại ĐBSCL, việc cơ giới hóa thu hoạch lúa vẫn phải tiến hành song song ba hình thức:

- Dùng máy gặt đẩy tay xếp lúa thành dãy; gom lúa bằng lao động thủ công; tuốt lúa bằng máy. Đây là giải pháp phù hợp cho chân ruộng ngập nước, có lúa đổ ngã và cũng là cách duy trì việc cho người nông dân nghèo.

- Tiến hành cắt và gom bằng lao động thủ công; khâu tuốt lúa thực hiện bằng máy. Đây là giải pháp dành cho ruộng có diện tích nhỏ, một thửa chỉ rộng vài ba công.

- Phát triển đa dạng máy gặt đập liên hợp với nhiều kích cỡ, kiểu dáng phù hợp với từng vùng, từng địa phương để chính người nông dân lựa chọn sau khi có sự tham gia sàng lọc của thị trường.

Những bước đi trên là phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp đề ra trong "Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X: "Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương".

Nguồn:Thế giới mới

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.