Cơ cấu phòng thủ đường biển thời Thanh mạt - Biến chuyển trong quan hệ triều cống giữa Việt Nam và Trung Quốc
Có thể coi trật tự quốc tế tại khu vực Đông Á, trật tự của chế độ triều cống và sắc phong lấy Trung Quốc làm trung tâm, chính là một sự áp dụng mang tính quốc tế cho “tư tưởng văn hoá phổ biến” lấy quan niệm chính trị lễ giáo, phân tích tôn ti rõ ràng của Nho giáo làm cơ sở. Vào giai đoạn nhà Minh, nhà Thanh từ sau nửa cuối thế kỷ 14, cùng với việc tăng cường chế độ phong toả đường biển, sự tiếp xúc về người và vật phẩm trong quan hệ giao lưu văn hoá và giao lưu thương mại giữa các quốc gia Đông Á cũng bị hạn chế bởi mối quan hệ triều cống - sắc phong này. Mặt khác, trật tự theo kiểu triều cống sắc phong này sẽ liên quan chặt chẽ với sự thống trị của hoàng đế Trung Hoa với tính chất của một quốc gia đế quốc, hay nói cách khác là nó có liên quan chặt chẽ với tính chính trị của thể chế đế quốc với cái gọi là hợp nhất thiên hạ và chuyên chế đức trị. Trật tự theo hình thức triều cống sắc phong này đều được áp dụng cho các quốc gia khác ở ngoài nước và dân tộc thiểu số ở trong nước của đế chế Trung Hoa…
Bài viết này có mục đích lần theo những biến chuyển về quan hệ Trung Quốc - VIệt Nam trong giai đoạn kéo dài từ thời Càn Long nửa cuối thế kỷ 18, đến cuộc chiến tranh Pháp - Trung (1883 - 1885) cuối thế kỷ 19, cùng với những thay đổi về thế giới quan, cách nhìn nhận về quốc gia của Trung Quốc được phản ánh ở đó. Thông qua việc thành lập về cơ bản hệ thống phòng thủ đường biển vào những năm 1870 và những tranh luận về mặt chính trị bắt đầu từ việc xuất hiện ý kiến phòng thủ đường biển của Trung Quốc dưới triều nhà Thanh sau chiến tranh thuốc phiện, bài viết muốn làm sáng tỏ một cách cụ thể hơn những biến đổi về mặt nhận thức đối với trật tự triều cống - sắc phong trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, xoay quanh vấn đề quan hệ Việt Nam dưới những áp lực của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc giai đoạn bấy giờ, so với trục hoạt động chính của Lý Hồng Chương, một viên quan trong Dương Vụ Phái và Từ Hy Tây Thái hậu thì chỉ thuộc ngạch nhỏ nhưng hoạt động của hàn lâm học sĩ Trương Bội Luân và Tăng Kỷ Trạch trong Dương Vụ Phái, con của Tăng Quốc Phiên có thể lấy làm trọng tâm. Thông qua mối quan hệ giữa triều nhà Thanh và Việt Nam có thể xem xét những biến đổi cụ thể trong mối quan hệ với chiến lược phòng thủ đường biển và việc cải cách cơ quan Dương Vụ Phái của nhà Thanh.
Những thay đổi nhận thức về phạm vi triều cống và chiến lược phòng thủ đường biển từ sau chiến tranh thuốc phiện
![]() |
| Giám đốc điều hành Quỹ lịch sử Đông Bắc Á Kim Yongdeok đọc lời chào mừng Hội thảo. |
Tuy nhiên, phương án trong Hải Quốc đồ chícho rằng có thể sử dụng quan hệ triều cống truyền thống ở Đông Nam Á làm mối liên kết chiến lược đối lại với các quốc gia phương Tây là phương án có liên quan đến chiến lược phòng thủ đường biển của Trung Quốc nửa sau thế kỷ 19. Từ sau những phát kiến địa lý vào thế kỷ 16, cùng với những cuộc xâm lược về quân sự để mở rộng thị trường của các cường quốc phương Tây cũng như những cuộc chinh phục các khu vực hải đảo Nam dương (hải đảo Đông Nam Á gồm các quốc gia Philíppin, Java, Mã Lai), bốn quốc gia vẫn còn nằm ngoài vùng thuộc địa của phương Tây giai đoạn chiến tranh thuốc phiện gồm có Việt Nam, Xiêm La, Mianma và Nhật Bản đều được goi là những quốc gia có vị trí chiến lược để phòng thủ ngăn chặn phương Tây. Ở khu vực này người ta thường coi trọng tới những hoạt động về kinh tế, chính trị của Xiêm La và Hoa kiều ở vùng hải đảo, đồng thời cũng có nhiều quan tâm tới các việc cấm thuốc phiện và đốt tàu Anh của Việt Nam, vị trí quốc tế và xuất khẩu gạo sang Trung Quốc của Xiêm la, hay các việc đàn áp, cấm truyền đạo thiên chúa của Nhật Bản. Xuất phát từ những tranh luận xoay quanh việc cấm thuốc phiện vào năm 1837, các quan niệm về phòng thủ theo kiểu truyền thống với trọng tâm là phòng thủ biên giới vùng Tây Bắc (lục địa châu Á) đã được sửa đổi, đồng thời những đánh giá, nhìn nhận lại về vấn đề phòng thủ đường biển của vùng Đông Á cũng bắt đầu được đề ra. Nguỵ Nguyên, với chiến lược dùng người di đánh người di cũng đã đưa ra những suy nghĩ cho rằng có thể khiến cho Xiêm La và Việt Nam tấn công căn cứ điểm của Anh tại Singapore hay Gurkha (Nêpan) cùng với Nga và Trung Quốc cũng có thể đánh vào Đông Ấn Độ. Ngoài ra Nguỵ Nguyên cũng còn nghĩ đến khả năng có thể lợi dụng các quốc gia đang cạnh tranh với Anh như Mỹ, Pháp, Hà Lan để thực hiện việc giảng hoà hay chiến tranh của mình. Chiến lược phòng thủ đường biển của Nguỵ Nguyên chú tâm đến thế lực của Hoa kiều và muốn tạo nên một khối đồng minh chống lại nước Anh ở Đông Nam Á là điều phi hiện thực. Mặc dù vậy, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản lại chính là những quốc gia có vị trí quan trọng nhất trong chiến lược phòng thủ đường biển của Trung Quốc sau này. Việt Nam và Triều Tiên trong quá trình hình thành trật tự quốc tế cận đại nửa sau thế kỷ 19, mỗi nước đều chịu sự đe doạ và xâm lược của Pháp và Nhật Bản, những mâu thuẫn về mặt ngoại giao xoay quanh mối quan hệ chính quốc và phiên quốc, mối quan hệ triều cống - sắc phong với Trung Quốc chính là một trong những nguyên nhân gây ra chiến tranh Thanh - Pháp và chiến tranh Thanh - Nhật. Do đó, việc nghiên cứu so sánh về trường hợp này của hai quốc gia sẽ góp phần hỗ trợ cho việc làm sáng tỏ hơn nữa tính chất về mặt lịch sử của mối quan hệ triều cống - sắc phong.
![]() |
| Gặp gỡ sinh viên Việt Nam theo học Địa học Inha. |
Dù sao, việc đế chế Trung Hoa bị chặn tay trước Nhật Bản, một phiên quốc của mình, cũng cho thấy một bài học, buộc Trung Quốc phải nghĩ lại về tính cần thiết của việc xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và kết hợp với việc tận dụng luật quốc tế mang tính chiến thuật về mặt ngoại giao trong quá trình cạnh tranh quốc tế với các quốc gia có chủ quyền. Cũng trong giai đoạn này, vào cuối những năm 1870, ở khu vực Tây Bắc, đàm phán về việc trao trả Ili bị Nga chiếm đóng cũng đã được tiến hành, đồng thời đây cũng là giai đoạn mà triều đình nhà Thanh bắt đầu hối thúc Triều Tiên mở cửa cho Mỹ và các quốc gia phương Tây nhằm kiềm chế và kiểm soát được vấn đề Triều Tiên mở cảng cho Nhật Bản vào năm 1876. Đồng thời, cũng vào thời điểm này, năm 1862, 1874 Pháp cũng được Việt Nam cắt cho 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ (năm 1867 là 6 tỉnh). Để có thể tự do truyền đạo và nhận được quyền lợi trong việc mở cảng ở khu vực đồng bằng sông Hồng phía Bắc, năm 1873, Pháp đã tấn công và chiếm Hà Nội, ngay sau đó Pháp đã ký được điều ước Sài Gòn lần thứ hai vào năm 1874. Việc Pháp xúc tiến quá trình biến Việt Nam thành một quốc gia bảo hộ của Pháp vô hình trung đã xung đột với Trung Quốc, bởi nhà Thanh cũng muốn đổ đồng mối quan hệ triều cống – sắc phong truyền thống trước đây với mối quan hệ chính quốc - phiến quốc và sử dụng cái quyền được gọi là của chính quốc để biến nó thành đặc quyền hợp pháp của mình. Với điều ước này, triều đình nhà Thanh, từ chỗ chưa biểu thị rõ về lập trường của mình lúc bấy giờ, bắt đầu phải can thiệp tích cực vào vấn đề Việt Nam bởi từ nửa sau những năm 70, việc Pháp thăm dò vùng sông Hồng cũng như xâm chiếm vào khu vực Bắc Kỳ đã đe doạ trực tiếp đến vùng biên giới của Trung Quốc. Đầu những năm 80, việc can thiệp trực tiếp của Trung Quốc vào vấn đề ở Bắc bộ Việt Nam phát triển thành chiến tranh Thanh - Pháp năm 1883. Một điều rất thú vị là trong giai đoạn chiến tranh Thanh - Pháp này, năm 1882, Lý Hồng Chương đã cử hạm đội Bắc Dương dưới sự chỉ huy của Ngô Trường Khánh đến Triều Tiên để đàn áp cuộc bạo loạn quân đội năm Nhâm Ngọ tại đây và sau đó với tư cách người bảo trợ cho chính quyền Cao Tông - Mẫn Phi (Gojong - Minpi) Trung Quốc đã tăng cường thêm mức độ lệ thuộc Triều Tiên với mình. Cuộc chiến tranh Thanh - Pháp đã xảy ra gần như đồng thời với việc nhà Thanh đàn áp các thế lực khai hoá cấp tiến của Kim Ngọc Quân (Kim Ok - gy un) ở Triều Tiên, những người muốn chống đối lại quyền lực của nhà Thanh, loại bỏ trật tự triều cống - sắc phong với Trung Quốc qua cuộc chính biến Giáp Thân 1884, để xác lập, xây dựng chủ quyền của một quốc gia cận đại.
![]() |
| Nhà cổ Hàn Quốc |
Ý thức trùng hưng đế quốc Thanh và việc can thiệp vào Việt Nam
Bối cảnh mà triều đình nhà Thanh lấy đặc quyền từ mối quan hệ truyền thống chính quốc - phiên quốc ra để đối lại với việc biến Việt Nam thành quốc gia được bảo hộ của Pháp, và tiến hành can thiệp vào vấn đề Việt Nam là bối cảnh có liên quan mật thiết đến thể chế phòng thủ đường biển được bắt đầu từ những năm 1860 và cụ thể hoá từ sau những năm 1870 của Trung Quốc. Chịu trách nhiệm chủ yếu trong chiến lược phòng thủ đường biển là Lý Hồng Chương và các thế lực chủ yếu trong phái cải cách Dương vụ, nhưng việc đưa ra đường lối chủ chiến một cách cứng rắn trong chính sách can thiệp vào Việt Nam và cuộc chiến Thanh – Pháp xảy ra từ đó lại chủ yếu không phải là Dương vụ phái mà là các thế lực Thanh nghị được biết đến là những quan lại thuộc Thanh nghị phái. Lập trường của phái tiến bộ Dương vụ mà Lý Hồng Chương đại diện là lập trường chủ hoà, trông đợi vào việc giải quyết một cách ôn hoà trong quá trình xảy ra những liên đới về chiến tranh và quá trình can thiệp vào Việt Nam của Trung Quốc. Tuy nhiên, ý thức được khó khăn ở chính sách phòng thủ biên cương của Trung Quốc trong việc xâm lược Việt Nam của Pháp, có thể nói cả hai bên Dương vụ phái và Thanh Nghị đều có chung một điểm là nhận thấy sự cần thiết phải ngăn chặn hành vi xâm lược của Pháp có thể sẽ sử dụng Việt Nam làm căn địa để tiến vào phía Tây Nam của Trung Quốc. Sở dĩ hệ thống phòng thủ biển Dương vụ phái đề ra là chiến lược mới nhằm bảo vệ cho thể chế của đế chế Trung Hoa già cỗi của triều Thanh để đối đầu lại với chủ nghĩa đế quốc giai đoạn cận đại. Quan lại thuộc Thanh nghị phái có tính bài ngoại chủ trương đối đầu trước sự đe doạ của các cường quốc phương Tây, mặc dù có biểu hiện đối địch lại với chính sách thoả hiệp ôn hoà của Dương vụ phái nhưng vẫn phải phụ thuộc về cơ bản vào chiến lược phòng thủ biển được Dương vụ phái xúc tiến.
Nếu coi mục đích cơ bản của Dương vụ phái là thông qua việc đưa kỹ thuật cùng với việc chế tạo quân sự của phương Tây vào để Trung Quốc có thể tự cường, tăng thêm sức mạnh của mình, thì những phê phán của Thanh nghị đối với họ lại hoàn toàn khác. Thanh nghị phái chĩa mũi nhọn vào chỗ Dương vụ phái không có mục đích đứng đắn, quá trình xúc tiến hoạt động không có hiệu quả nhờ vào sự thoả hiệp mang tính cơ hội, và kéo theo đó là những kết quả không như mong đợi. Theo thượng thư, Hàn lâm viện sĩ Trương Bội Luân thì từ lúc này “quốc gia cần phải có cải cách về cốt yếu kế hoạch quy chuẩn cho việc ngăn chặn thế lực bên ngoài”. Ông phê phán triều đình nhà Thanh không thể trách cứ hay cật vấn về các việc Nhật Bản sáp nhật Ryukyu (Lưu Cầu), tranh thủ lúc nhà Thanh đang đàm phán thu hồi lại khu vực Ili từ tay Nga, hay việc Pháp xâm lược Việt Nam cũng như Việt Nam ký kết điều ước với Pháp. Ngoài ra, ông cũng cho rằng, sau chiến tranh thuốc phiện, sau giai đoạn có sự thông thương quốc tế, mặc dù đã qua 40 năm nhưng “về quân sự, chiến tranh theo kiểu Trung Quốc thì nhiều mà chiến hạm theo kiểu phương Tây thì ít, trong quân doanh hàng nghìn lý ở miền duyên hải, lính phòng ngự thì có nhưng lính chiến đấu lại không có”. Và như vậy, ông cũng chủ trương xây dựng hải quân, tức là dùng tàu trên biển chạy bằng hơi nước để tấn công lại thế lực bên ngoài.
![]() |
| Chợ bán sâm tươi ở Seoul. |
Động cơ thúc đẩy việc du nhập kỹ thuật và sản xuất quân sự của phương Tây ở giai đoạn chiến lược phòng thủ biển của Dương vụ phái đang phát triển vào những năm 1860 - 1870 chính là ý thức về việc biến đổi cục diện của Lý Hồng Chương. Tuy nhiên khi đối mặt với việc biến đổi cục diện trên thế giới như vậy, mục tiêu xúc tiến cải cách Dương vụ lại là ý thức cải tiến thể chế cứng nhắc của đế quốc Trung Hoa già cỗi, và ý thức trùng hưng lại vương triều, nhằm xây dựng lại đế chế mang tính Nho giáo, tức là xây dựng lại quốc thể. Ý kiến nhấn mạnh vào ý thức trùng hưng đế chế của những năm 1850 – 1870 từng bình định được các vụ nổi loại ở trong nước và biên giới như Thái Bình Thiên Quốc hay loạn Niệm Quân Hồi Dân, coi cải cách Dương vụ chỉ là một yếu tố bộ phận trong quá trình trùng hưng Đồng Trị, quá trình lấy việc trấn áp nổi loạn và cải cách nội chính làm nền tảng có thể được coi là ý kiến tương đối có tính thuyết phục. Mặc dù vậy, lý do mà thế lực của Dương vụ đứng đầu là Lý Hồng Chương đã bị quan lại của Thanh nghị phái và tầng lớp học giả phê phán chính là vì chiến lược phòng thủ đường biển của Dương vụ tập trung vào mặt kỹ thuật, chạy theo lập trường coi trọng lợi ích cá nhân mang tính thoả hiệp, rốt cuộc nó bị cảnh báo là khuếch trương yếu tố phương Tây bao gồm trong đó cả những mâu thuẫn với thể chế quốc gia và truyền thống Nho giáo. Hơn nữa, họ thấy cần thiết phải ngăn chặn chính sách nhượng bộ thoả hiệp trong giao thiệp với các cường quốc phương Tây xâm lược mà Lý Hồng Chương đã thể hiện ra. Tăng Quốc Phiên, người khai sáng Dương vụ luận cũng đã từng đối diện với những mâu thuẫn giữa Dương vụ và Thanh nghị như vậy trong “Thiên Tân giáo án” 1870. Chống đối lại với tư tưởng vì lợi ích cá nhân mang tính thoả hiệp của Dương vụ phái, lập trường của Thanh nghị là dựng lên lý luận chính thống, chú trọng vào việc cải cách và chỉnh đốn nội chính, hạn chế hiện tượng “nội khinh ngoại trọng” đang làm giảm sức mạnh của chính quyền trung ương do mở rộng thế lực quan liêu địa phương của Dương vụ phái. Ở đây có thể nói Thanh nghị phái đã tập trung vào phương diện bảo vệ thể chế đế quốc trong tư tưởng “Trung thể tây dụng” mà Dương vụ phái vẫn chưa từ bỏ để tấn công vào điểm yếu của Dương vụ phái […].
So với Thanh nghị phái mang tính chất bảo thủ giai đoạn trước (trước và sau chiến tranh Thanh - Pháp), sau thất bại của chiến tranh Thanh - Nhật vào những năm 1890, cùng với sự gắn bó, hỗ trợ của Khang Hữu Vi thuộc Biến Pháp phái, có thể thấy Thanh nghị phái giai đoạn sau đã có được tinh thần cải cách mang tính chất hiện đại… Một loạt các sự kiện đã xảy ra vào cuối những năm 1870 từ việc sát nhập Ryukyu của Nhật Bản đến các sự kiện hoàn lại vùng Ili, quân chiếm Nhâm Ngọ ở Triều Tiên, hay chiến tranh Thanh – Pháp. Trật tự quốc tế ở Đông Nam Á đầu những năm 80 có xu thế đậm chất bảo thủ của việc trùng hưng đế quốc của nhà Thanh, hoàn toàn khác so với thời điểm chiến tranh Thanh - Nhật. Khi cuộc chiến đã kết thúc với kết quả của việc Từ Hy thái hậu lựa chọn chính sách ngoại giao thoả hiệp của đại thần thuộc Dương vụ phái Lý Hồng Chương , phái Thanh nghị bảo thủ đã có thêm được sức mạnh và nhà Thanh đã không bị thất bại về mặt quân sự. Song chúng ta cũng cần chú ý tới phân tích cho rằng chính việc không thất bại về quân sự lúc này đã là nguyên nhân của sự trì trệ về cải cách, đem lại thảm bại trên thực tế cho Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Thanh - Nhật 10 năm sau.
Sau sự kiện Đài Loan, thông qua việc tăng cường phòng thủ đường biển, đường bộ, lấy cải cách Dương vụ làm nền tảng, triều đình nhà Thanh đã khôi phục lại được sự tự tin của mình thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Khi bị liên quân Anh, Pháp xâm lược năm 1850 - 1860. Thành quả cao nhất của cải cách Dương vụ là việc đưa vào các quan đại thần người Hán như Lý Hồng Chương, Tăng Quốc Phiên, tái vũ trang bằng vũ khí mới theo kiểu phương Tây cho quân đội như các đội quân được tổ chức lại ở các địa phương là Tương quân, Hoài quân và nhờ đó mà nhà Thanh đã bình định được bạo loạn Thái Bình Thiên Quốc. Việc khôi phục lại được lòng tự tin của triều Thanh như vậy cũng đã được thể hiện ở lập trường của toàn quyền sứ tiết (sứ giả) Tăng Kỉ Trạch (con của Tăng Quốc Phiên) trong quá trình đàm phán với Nga xoay quanh việc thu hồi lại vùng Ilinăm 1880. Phía bên Nga lúc bấy giờ cũng phải đưa ra nhận xét “vốn có lòng khinh miệt Trung Quốc nhưng quân đội bình định dân đạo Hồi phía Tây Bắc (quân của Tả Tông Đường) không ngờ lại thuần như vậy, vì thế đã vui vẻ trao trả lại vùng đã chiếm đóng”. Nếu như theo Trương Bội Luân của Thanh nghị phải chỉ trích ra rằng thất bại trong phòng thủ đường biển của Trung Quốc qua hai lần chiến tranh thuốc phiện và sự kiện Đài Loan trong quá khứ, chính là do đã có sai lầm chọn nghị hoà khi đáng ra phải đánh trận trên 3 khu vực Định Hải (Châu Sơn), Tân Cô (Thiên Tân - Đại Cô) và Đài Loan. Về tình hình nửa sau những năm 1870 và đầu những 80, xảy ra một loạt các sự kiện nối đuôi nhau như điều ước với Nga (về vấn đề Ili), vấn đề Ryukyu, và sự kiện ở Việt Nam… việc xảy ra một cuộc chiến vì sự ổn định lâu dài của Trung Quốc là không thể tránh khỏi và Trung Quốc phải nhắm vào mục đích đạt được thắng lợi vẹn toàn. Nếu chiến tranh với Nga thì không được và bản thân Nga cũng không muốn gây chiến, trong khi có thể đánh với Nhật nhưng cho dù có đoạt được Ryukyu thì cũng khó mà giữ được vùng này nên lúc bấy giờ cũng chưa cần thiết phải chiến tranh ngay với Nhật Bản. Riêng đối với trường hợp của Pháp, địa thế Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc gần hơn so vưói Ryukyu, trong khi Pháp lại là quốc gia ở xa, nên Trung Quốc có thể đánh vào cả đằng trước và đằng sau lưng của Pháp. Nhận thức về quốc tế của Trương Bội Luân lúc này là phải cảnh giác đề phòng với Anh, Nga, Đức, thân với Mỹ, trong khi có khuynh hướng xem nhẹ Pháp, một quốc gia bại trận dưới tay Đức, và Nhật Bản, một nước nhỏ trong khu vực.












