Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/03/2009 15:55 (GMT+7)

Cơ cấu phòng thủ đường biển thời Thanh mạt - Biến chuyển trong quan hệ triều cống giữa Việt Nam và Trung Quốc

Có thể coi trật tự quốc tế tại khu vực Đông Á, trật tự của chế độ triều cống và sắc phong lấy Trung Quốc làm trung tâm, chính là một sự áp dụng mang tính quốc tế cho “tư tưởng văn hoá phổ biến” lấy quan niệm chính trị lễ giáo, phân tích tôn ti rõ ràng của Nho giáo làm cơ sở. Vào giai đoạn nhà Minh, nhà Thanh từ sau nửa cuối thế kỷ 14, cùng với việc tăng cường chế độ phong toả đường biển, sự tiếp xúc về người và vật phẩm trong quan hệ giao lưu văn hoá và giao lưu thương mại giữa các quốc gia Đông Á cũng bị hạn chế bởi mối quan hệ triều cống - sắc phong này. Mặt khác, trật tự theo kiểu triều cống sắc phong này sẽ liên quan chặt chẽ với sự thống trị của hoàng đế Trung Hoa với tính chất của một quốc gia đế quốc, hay nói cách khác là nó có liên quan chặt chẽ với tính chính trị của thể chế đế quốc với cái gọi là hợp nhất thiên hạ và chuyên chế đức trị. Trật tự theo hình thức triều cống sắc phong này đều được áp dụng cho các quốc gia khác ở ngoài nước và dân tộc thiểu số ở trong nước của đế chế Trung Hoa…

Bài viết này có mục đích lần theo những biến chuyển về quan hệ Trung Quốc - VIệt Nam trong giai đoạn kéo dài từ thời Càn Long nửa cuối thế kỷ 18, đến cuộc chiến tranh Pháp - Trung (1883 - 1885) cuối thế kỷ 19, cùng với những thay đổi về thế giới quan, cách nhìn nhận về quốc gia của Trung Quốc được phản ánh ở đó. Thông qua việc thành lập về cơ bản hệ thống phòng thủ đường biển vào những năm 1870 và những tranh luận về mặt chính trị bắt đầu từ việc xuất hiện ý kiến phòng thủ đường biển của Trung Quốc dưới triều nhà Thanh sau chiến tranh thuốc phiện, bài viết muốn làm sáng tỏ một cách cụ thể hơn những biến đổi về mặt nhận thức đối với trật tự triều cống - sắc phong trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, xoay quanh vấn đề quan hệ Việt Nam dưới những áp lực của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc giai đoạn bấy giờ, so với trục hoạt động chính của Lý Hồng Chương, một viên quan trong Dương Vụ Phái và Từ Hy Tây Thái hậu thì chỉ thuộc ngạch nhỏ nhưng hoạt động của hàn lâm học sĩ Trương Bội Luân và Tăng Kỷ Trạch trong Dương Vụ Phái, con của Tăng Quốc Phiên có thể lấy làm trọng tâm. Thông qua mối quan hệ giữa triều nhà Thanh và Việt Nam có thể xem xét những biến đổi cụ thể trong mối quan hệ với chiến lược phòng thủ đường biển và việc cải cách cơ quan Dương Vụ Phái của nhà Thanh.

Những thay đổi nhận thức về phạm vi triều cống và chiến lược phòng thủ đường biển từ sau chiến tranh thuốc phiện

Giám đốc điều hành Quỹ lịch sử Đông Bắc Á Kim Yongdeok đọc lời chào mừng Hội thảo.
Giám đốc điều hành Quỹ lịch sử Đông Bắc Á Kim Yongdeok đọc lời chào mừng Hội thảo.
Có thể nói hành động chấp nhận đầu tiên về thể chế của các điều ước và việc mở cảng của nhà Thanh - Trung Quốc đối với phương Tây được bắt đầu ở cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất vớisự xâm lược của quân đội Anh và điều ước Nam Kinh (năm 1842). Tuy nhiên đây mới chỉ là việc chấp nhận ở một bộ phận và vẫn mang tính chất phản kháng, đối phó. Sự tồn tại của chế độ điều ước và việcmở cửa một cách toàn diện của Trung Quốc chính thức phải bắt đầu từ sau đó 20 năm, vào thời điểm xuất hiện chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai và điều ước Bắc Kinh (1860). Sau cuộc chiến tranh thuốcphiện lần thứ nhất, hai học giả tài giỏi là Cung Tự Trân và Nguỵ Nguyên đã phát triển lý luận về cải cách nội chính căn cứ vào kiến thức kinh thư lúc bấy giờ và trở thành những người đi tiên phongcho lý luận về chiến lược phòng ngự của thể chế đế quốc sau cải cách Dương Vụ Phái về sau. Thông qua việc nghiên cứu về địa lý của thế giới, Nguỵ Nguyên đã viết cuốn Sư di trường kĩ dĩ chế divới ý nghĩa học lấy cái tài của người man di để chế áp người man di, và cũng đề ra phương án du nhập kỹ thuật và ngành sản xuất quân sự tiếnbộ của phương Tây vào. Phương án này của Nguỵ Nguyên 20 năm sau được phát triển mở rộng thành Thuyết Dương vụ và được nhiều người biết đến.

Tuy nhiên, phương án trong Hải Quốc đồ chícho rằng có thể sử dụng quan hệ triều cống truyền thống ở Đông Nam Á làm mối liên kết chiến lược đối lại với các quốc gia phương Tây là phương án có liên quan đến chiến lược phòng thủ đường biển của Trung Quốc nửa sau thế kỷ 19. Từ sau những phát kiến địa lý vào thế kỷ 16, cùng với những cuộc xâm lược về quân sự để mở rộng thị trường của các cường quốc phương Tây cũng như những cuộc chinh phục các khu vực hải đảo Nam dương (hải đảo Đông Nam Á gồm các quốc gia Philíppin, Java, Mã Lai), bốn quốc gia vẫn còn nằm ngoài vùng thuộc địa của phương Tây giai đoạn chiến tranh thuốc phiện gồm có Việt Nam, Xiêm La, Mianma và Nhật Bản đều được goi là những quốc gia có vị trí chiến lược để phòng thủ ngăn chặn phương Tây. Ở khu vực này người ta thường coi trọng tới những hoạt động về kinh tế, chính trị của Xiêm La và Hoa kiều ở vùng hải đảo, đồng thời cũng có nhiều quan tâm tới các việc cấm thuốc phiện và đốt tàu Anh của Việt Nam, vị trí quốc tế và xuất khẩu gạo sang Trung Quốc của Xiêm la, hay các việc đàn áp, cấm truyền đạo thiên chúa của Nhật Bản. Xuất phát từ những tranh luận xoay quanh việc cấm thuốc phiện vào năm 1837, các quan niệm về phòng thủ theo kiểu truyền thống với trọng tâm là phòng thủ biên giới vùng Tây Bắc (lục địa châu Á) đã được sửa đổi, đồng thời những đánh giá, nhìn nhận lại về vấn đề phòng thủ đường biển của vùng Đông Á cũng bắt đầu được đề ra. Nguỵ Nguyên, với chiến lược dùng người di đánh người di cũng đã đưa ra những suy nghĩ cho rằng có thể khiến cho Xiêm La và Việt Nam tấn công căn cứ điểm của Anh tại Singapore hay Gurkha (Nêpan) cùng với Nga và Trung Quốc cũng có thể đánh vào Đông Ấn Độ. Ngoài ra Nguỵ Nguyên cũng còn nghĩ đến khả năng có thể lợi dụng các quốc gia đang cạnh tranh với Anh như Mỹ, Pháp, Hà Lan để thực hiện việc giảng hoà hay chiến tranh của mình. Chiến lược phòng thủ đường biển của Nguỵ Nguyên chú tâm đến thế lực của Hoa kiều và muốn tạo nên một khối đồng minh chống lại nước Anh ở Đông Nam Á là điều phi hiện thực. Mặc dù vậy, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản lại chính là những quốc gia có vị trí quan trọng nhất trong chiến lược phòng thủ đường biển của Trung Quốc sau này. Việt Nam và Triều Tiên trong quá trình hình thành trật tự quốc tế cận đại nửa sau thế kỷ 19, mỗi nước đều chịu sự đe doạ và xâm lược của Pháp và Nhật Bản, những mâu thuẫn về mặt ngoại giao xoay quanh mối quan hệ chính quốc và phiên quốc, mối quan hệ triều cống - sắc phong với Trung Quốc chính là một trong những nguyên nhân gây ra chiến tranh Thanh - Pháp và chiến tranh Thanh - Nhật. Do đó, việc nghiên cứu so sánh về trường hợp này của hai quốc gia sẽ góp phần hỗ trợ cho việc làm sáng tỏ hơn nữa tính chất về mặt lịch sử của mối quan hệ triều cống - sắc phong.

Gặp gỡ sinh viên Việt Nam theo học Địa học Inha.
Gặp gỡ sinh viên Việt Nam theo học Địa học Inha.
Từ sau điều ước Bắc Kinh (1860), các nước trong khu vực Đông Á phải chịu áp lực của chủ nghĩa đế quốc từ các quốc gia độc lập tự quyền dựng nên trật tự điều ước theo kiểu phương Tây, và dođó, vì sự tồn vong của đất nước, họ không thể không tìm kiếm lấy một trật tự mới trong khu vực thay cho trật tự triều cống - sắc phong, để đối lại trật tự thế giới mới này. Đi đầu trong việc tìm đếnvới một trật tự mới trong khu vực Đông Á có thể khẳng định chính là Nhật Bản với phong trào Minh Trị Duy Tân, vận động toàn quốc lật đổ chế độ mạc phủ Tokugawa (Đức Xuyên) và lập nên một quốc gia cậnđại vào thời điểm những năm 1860. So với cải cách Dương vụ, lấy ngành sản xuất quân sự làm chủ đạo, bắt đầu du nhập kỹ thuật hiện đại về từ phương Tây của Trung Quốc thì có thể nói Cải cách Duy Tâncủa Nhật bản đã đạt đến mức độ gần như một cuộc cách mạng. Có thể nói đặc điểm cơ bản của cải cách Dương vụ ở Trung Quốc chỉ là chiến lược phòng thủ đường biển nhằm duy trì thể chế của triều đình nhàThanh, một đế chế Trung Hoa lúc bấy giờ đã già cỗi. Vấn đề phòng thủ đường biển tuy xuất phát ban đầu từ chiến lược lâu dài chống lại sự xâm lược của phương Tây, nhưng do việc phải đối đầu với kẻ thùchính là Nhật Bản vào thời điểm những năm 1870, nên đã xuất hiện những bài toán cấp thiết cần phải giải quyết trước mắt hơn qua hình thức tranh luận về việc nên ưu tiên cho phòng thủ đường biển hayphòng thủ trên lục địa. Việc tiến đánh Đài Loan của Nhật Bản vào giai đoạn cùng thời điểm với việc Nga chiếm Tây Bắc Ili chính là một xuất phát điểm thực sự của chính sách phòng thủ đường biển.

Dù sao, việc đế chế Trung Hoa bị chặn tay trước Nhật Bản, một phiên quốc của mình, cũng cho thấy một bài học, buộc Trung Quốc phải nghĩ lại về tính cần thiết của việc xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và kết hợp với việc tận dụng luật quốc tế mang tính chiến thuật về mặt ngoại giao trong quá trình cạnh tranh quốc tế với các quốc gia có chủ quyền. Cũng trong giai đoạn này, vào cuối những năm 1870, ở khu vực Tây Bắc, đàm phán về việc trao trả Ili bị Nga chiếm đóng cũng đã được tiến hành, đồng thời đây cũng là giai đoạn mà triều đình nhà Thanh bắt đầu hối thúc Triều Tiên mở cửa cho Mỹ và các quốc gia phương Tây nhằm kiềm chế và kiểm soát được vấn đề Triều Tiên mở cảng cho Nhật Bản vào năm 1876. Đồng thời, cũng vào thời điểm này, năm 1862, 1874 Pháp cũng được Việt Nam cắt cho 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ (năm 1867 là 6 tỉnh). Để có thể tự do truyền đạo và nhận được quyền lợi trong việc mở cảng ở khu vực đồng bằng sông Hồng phía Bắc, năm 1873, Pháp đã tấn công và chiếm Hà Nội, ngay sau đó Pháp đã ký được điều ước Sài Gòn lần thứ hai vào năm 1874. Việc Pháp xúc tiến quá trình biến Việt Nam thành một quốc gia bảo hộ của Pháp vô hình trung đã xung đột với Trung Quốc, bởi nhà Thanh cũng muốn đổ đồng mối quan hệ triều cống – sắc phong truyền thống trước đây với mối quan hệ chính quốc - phiến quốc và sử dụng cái quyền được gọi là của chính quốc để biến nó thành đặc quyền hợp pháp của mình. Với điều ước này, triều đình nhà Thanh, từ chỗ chưa biểu thị rõ về lập trường của mình lúc bấy giờ, bắt đầu phải can thiệp tích cực vào vấn đề Việt Nam bởi từ nửa sau những năm 70, việc Pháp thăm dò vùng sông Hồng cũng như xâm chiếm vào khu vực Bắc Kỳ đã đe doạ trực tiếp đến vùng biên giới của Trung Quốc. Đầu những năm 80, việc can thiệp trực tiếp của Trung Quốc vào vấn đề ở Bắc bộ Việt Nam phát triển thành chiến tranh Thanh - Pháp năm 1883. Một điều rất thú vị là trong giai đoạn chiến tranh Thanh - Pháp này, năm 1882, Lý Hồng Chương đã cử hạm đội Bắc Dương dưới sự chỉ huy của Ngô Trường Khánh đến Triều Tiên để đàn áp cuộc bạo loạn quân đội năm Nhâm Ngọ tại đây và sau đó với tư cách người bảo trợ cho chính quyền Cao Tông - Mẫn Phi (Gojong - Minpi) Trung Quốc đã tăng cường thêm mức độ lệ thuộc Triều Tiên với mình. Cuộc chiến tranh Thanh - Pháp đã xảy ra gần như đồng thời với việc nhà Thanh đàn áp các thế lực khai hoá cấp tiến của Kim Ngọc Quân (Kim Ok - gy un) ở Triều Tiên, những người muốn chống đối lại quyền lực của nhà Thanh, loại bỏ trật tự triều cống - sắc phong với Trung Quốc qua cuộc chính biến Giáp Thân 1884, để xác lập, xây dựng chủ quyền của một quốc gia cận đại.

Nhà cổ Hàn Quốc
Nhà cổ Hàn Quốc
Sang đầu những năm 1880 bối cảnh ở Đông Á được đổi sang chính sách can thiệp một cách tích cực để đối đầu với Nhật Bản và Pháp của nhà Thanh xoay quanh những nguy cơ có thể xảy ở Việt Nam vàTriều Tiên. Chính sách tích cực thu hồi vùng đất của các dân tộc ở biên giới Tây Bắc, cùng với chính sách can thiệp tích cực đối với các quốc gia thuộc khu vực triều cống ở phía Đông Nam của nhàThanh đã phản ánh xu thế tăng cường về tư tưởng chiến lược trong phòng thủ đường bộ và đường biển, tức là chiến lược biên phòng nhằm phòng thủ biên giới, gìn giữ thể chế đế quốc Trung Quốc giai đoạnbấy giờ.

Ý thức trùng hưng đế quốc Thanh và việc can thiệp vào Việt Nam

Bối cảnh mà triều đình nhà Thanh lấy đặc quyền từ mối quan hệ truyền thống chính quốc - phiên quốc ra để đối lại với việc biến Việt Nam thành quốc gia được bảo hộ của Pháp, và tiến hành can thiệp vào vấn đề Việt Nam là bối cảnh có liên quan mật thiết đến thể chế phòng thủ đường biển được bắt đầu từ những năm 1860 và cụ thể hoá từ sau những năm 1870 của Trung Quốc. Chịu trách nhiệm chủ yếu trong chiến lược phòng thủ đường biển là Lý Hồng Chương và các thế lực chủ yếu trong phái cải cách Dương vụ, nhưng việc đưa ra đường lối chủ chiến một cách cứng rắn trong chính sách can thiệp vào Việt Nam và cuộc chiến Thanh – Pháp xảy ra từ đó lại chủ yếu không phải là Dương vụ phái mà là các thế lực Thanh nghị được biết đến là những quan lại thuộc Thanh nghị phái. Lập trường của phái tiến bộ Dương vụ mà Lý Hồng Chương đại diện là lập trường chủ hoà, trông đợi vào việc giải quyết một cách ôn hoà trong quá trình xảy ra những liên đới về chiến tranh và quá trình can thiệp vào Việt Nam của Trung Quốc. Tuy nhiên, ý thức được khó khăn ở chính sách phòng thủ biên cương của Trung Quốc trong việc xâm lược Việt Nam của Pháp, có thể nói cả hai bên Dương vụ phái và Thanh Nghị đều có chung một điểm là nhận thấy sự cần thiết phải ngăn chặn hành vi xâm lược của Pháp có thể sẽ sử dụng Việt Nam làm căn địa để tiến vào phía Tây Nam của Trung Quốc. Sở dĩ hệ thống phòng thủ biển Dương vụ phái đề ra là chiến lược mới nhằm bảo vệ cho thể chế của đế chế Trung Hoa già cỗi của triều Thanh để đối đầu lại với chủ nghĩa đế quốc giai đoạn cận đại. Quan lại thuộc Thanh nghị phái có tính bài ngoại chủ trương đối đầu trước sự đe doạ của các cường quốc phương Tây, mặc dù có biểu hiện đối địch lại với chính sách thoả hiệp ôn hoà của Dương vụ phái nhưng vẫn phải phụ thuộc về cơ bản vào chiến lược phòng thủ biển được Dương vụ phái xúc tiến.

Nếu coi mục đích cơ bản của Dương vụ phái là thông qua việc đưa kỹ thuật cùng với việc chế tạo quân sự của phương Tây vào để Trung Quốc có thể tự cường, tăng thêm sức mạnh của mình, thì những phê phán của Thanh nghị đối với họ lại hoàn toàn khác. Thanh nghị phái chĩa mũi nhọn vào chỗ Dương vụ phái không có mục đích đứng đắn, quá trình xúc tiến hoạt động không có hiệu quả nhờ vào sự thoả hiệp mang tính cơ hội, và kéo theo đó là những kết quả không như mong đợi. Theo thượng thư, Hàn lâm viện sĩ Trương Bội Luân thì từ lúc này “quốc gia cần phải có cải cách về cốt yếu kế hoạch quy chuẩn cho việc ngăn chặn thế lực bên ngoài”. Ông phê phán triều đình nhà Thanh không thể trách cứ hay cật vấn về các việc Nhật Bản sáp nhật Ryukyu (Lưu Cầu), tranh thủ lúc nhà Thanh đang đàm phán thu hồi lại khu vực Ili từ tay Nga, hay việc Pháp xâm lược Việt Nam cũng như Việt Nam ký kết điều ước với Pháp. Ngoài ra, ông cũng cho rằng, sau chiến tranh thuốc phiện, sau giai đoạn có sự thông thương quốc tế, mặc dù đã qua 40 năm nhưng “về quân sự, chiến tranh theo kiểu Trung Quốc thì nhiều mà chiến hạm theo kiểu phương Tây thì ít, trong quân doanh hàng nghìn lý ở miền duyên hải, lính phòng ngự thì có nhưng lính chiến đấu lại không có”. Và như vậy, ông cũng chủ trương xây dựng hải quân, tức là dùng tàu trên biển chạy bằng hơi nước để tấn công lại thế lực bên ngoài.

Chợ bán sâm tươi ở Seoul.
Chợ bán sâm tươi ở Seoul.
Đối với việc xâm lược Việt Nam của Pháp, Trương Bội Luân cho rằng nếu như Trung Quốc không giữ lấy Việt Nam, Việt Nam sẽ rơi vào vòng thống trị của Pháp và khi đó cách tốt nhất là Trung Quốcphải tạm thời chiếm lấy Việt Nam để phòng thủ biên giới của mình. Nhà Thanh cần tăng cưừong nhận thức về sự tồn vong của Việt Nam rất cần thiết cho việc củng cố vững chắc biên giới phía Nam (QuảngĐông, Quảng Tây, Vân Nam), đồng thời phải ý thức được nguy cơ khó khăn của Trung Quốc trước mối quan hệ Pháp Việt xuất phát từ việc đánh chiếm Hà Nội của Pháp vào tháng 3 (âm lịch) 1882. Trương BộiLuân của Thanh nghị phái đã chỉ trích thực trạng vùng Quảng Đông tiếp giáp với Việt Nam vẫn chưa có một chiến hạm quân đội nào được bố trí, vùng Quảng Tây cũng không có lấy một ngọn thương nào để bảovệ. Đồng thời, ông khuyên nên thuyết phụ để liên minh với Đức chống lại Pháp, và để thực hiện được điều này cần mua số lượng lớn pháo, thuyền bọc thép do Đức chế tạo. Hơn nữa, không chỉ đề cập cácvấn đề ở Quảng Đông, Quảng Tây hay Vân Nam, ông còn đề ra chiến lược huy động binh lực hai đường thuỷ lục của Bắc dương và Nam dương để biến Việt Nam thành quốc gia nội thuộc Trung Quốc nhằm phòngngự chống lại Pháp. Vì thế, ông cho rằng nếu muốn tiêu hao quân lương của Pháp bằng cuộc chiến trường kỳ thi cũng có thể nhượng bộ khu vực phía Nam Việt Nam, có khả năng thực hiện nghị hoà với Phápmà không sợ ảnh hưởng đến quốc thể. Theo lý giải của Trương Bội Luân, ca ngợi việc dùng binh trong 60 năm của vua Càn Long bình định các vùng Zhungar, Uighur và xuất binh đi đánh Việt Nam, Mianmi,theo đó ông cho rằng chính sách hiện tại lúc bấy giờ là cần phải thông qua chiến tranh chứ không phải phòng bị để nhờ đó trùng hưng lại đại nghiệp của triều đình.

Động cơ thúc đẩy việc du nhập kỹ thuật và sản xuất quân sự của phương Tây ở giai đoạn chiến lược phòng thủ biển của Dương vụ phái đang phát triển vào những năm 1860 - 1870 chính là ý thức về việc biến đổi cục diện của Lý Hồng Chương. Tuy nhiên khi đối mặt với việc biến đổi cục diện trên thế giới như vậy, mục tiêu xúc tiến cải cách Dương vụ lại là ý thức cải tiến thể chế cứng nhắc của đế quốc Trung Hoa già cỗi, và ý thức trùng hưng lại vương triều, nhằm xây dựng lại đế chế mang tính Nho giáo, tức là xây dựng lại quốc thể. Ý kiến nhấn mạnh vào ý thức trùng hưng đế chế của những năm 1850 – 1870 từng bình định được các vụ nổi loại ở trong nước và biên giới như Thái Bình Thiên Quốc hay loạn Niệm Quân Hồi Dân, coi cải cách Dương vụ chỉ là một yếu tố bộ phận trong quá trình trùng hưng Đồng Trị, quá trình lấy việc trấn áp nổi loạn và cải cách nội chính làm nền tảng có thể được coi là ý kiến tương đối có tính thuyết phục. Mặc dù vậy, lý do mà thế lực của Dương vụ đứng đầu là Lý Hồng Chương đã bị quan lại của Thanh nghị phái và tầng lớp học giả phê phán chính là vì chiến lược phòng thủ đường biển của Dương vụ tập trung vào mặt kỹ thuật, chạy theo lập trường coi trọng lợi ích cá nhân mang tính thoả hiệp, rốt cuộc nó bị cảnh báo là khuếch trương yếu tố phương Tây bao gồm trong đó cả những mâu thuẫn với thể chế quốc gia và truyền thống Nho giáo. Hơn nữa, họ thấy cần thiết phải ngăn chặn chính sách nhượng bộ thoả hiệp trong giao thiệp với các cường quốc phương Tây xâm lược mà Lý Hồng Chương đã thể hiện ra. Tăng Quốc Phiên, người khai sáng Dương vụ luận cũng đã từng đối diện với những mâu thuẫn giữa Dương vụ và Thanh nghị như vậy trong “Thiên Tân giáo án” 1870. Chống đối lại với tư tưởng vì lợi ích cá nhân mang tính thoả hiệp của Dương vụ phái, lập trường của Thanh nghị là dựng lên lý luận chính thống, chú trọng vào việc cải cách và chỉnh đốn nội chính, hạn chế hiện tượng “nội khinh ngoại trọng” đang làm giảm sức mạnh của chính quyền trung ương do mở rộng thế lực quan liêu địa phương của Dương vụ phái. Ở đây có thể nói Thanh nghị phái đã tập trung vào phương diện bảo vệ thể chế đế quốc trong tư tưởng “Trung thể tây dụng” mà Dương vụ phái vẫn chưa từ bỏ để tấn công vào điểm yếu của Dương vụ phái […].

So với Thanh nghị phái mang tính chất bảo thủ giai đoạn trước (trước và sau chiến tranh Thanh - Pháp), sau thất bại của chiến tranh Thanh - Nhật vào những năm 1890, cùng với sự gắn bó, hỗ trợ của Khang Hữu Vi thuộc Biến Pháp phái, có thể thấy Thanh nghị phái giai đoạn sau đã có được tinh thần cải cách mang tính chất hiện đại… Một loạt các sự kiện đã xảy ra vào cuối những năm 1870 từ việc sát nhập Ryukyu của Nhật Bản đến các sự kiện hoàn lại vùng Ili, quân chiếm Nhâm Ngọ ở Triều Tiên, hay chiến tranh Thanh – Pháp. Trật tự quốc tế ở Đông Nam Á đầu những năm 80 có xu thế đậm chất bảo thủ của việc trùng hưng đế quốc của nhà Thanh, hoàn toàn khác so với thời điểm chiến tranh Thanh - Nhật. Khi cuộc chiến đã kết thúc với kết quả của việc Từ Hy thái hậu lựa chọn chính sách ngoại giao thoả hiệp của đại thần thuộc Dương vụ phái Lý Hồng Chương , phái Thanh nghị bảo thủ đã có thêm được sức mạnh và nhà Thanh đã không bị thất bại về mặt quân sự. Song chúng ta cũng cần chú ý tới phân tích cho rằng chính việc không thất bại về quân sự lúc này đã là nguyên nhân của sự trì trệ về cải cách, đem lại thảm bại trên thực tế cho Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Thanh - Nhật 10 năm sau.

Sau sự kiện Đài Loan, thông qua việc tăng cường phòng thủ đường biển, đường bộ, lấy cải cách Dương vụ làm nền tảng, triều đình nhà Thanh đã khôi phục lại được sự tự tin của mình thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Khi bị liên quân Anh, Pháp xâm lược năm 1850 - 1860. Thành quả cao nhất của cải cách Dương vụ là việc đưa vào các quan đại thần người Hán như Lý Hồng Chương, Tăng Quốc Phiên, tái vũ trang bằng vũ khí mới theo kiểu phương Tây cho quân đội như các đội quân được tổ chức lại ở các địa phương là Tương quân, Hoài quân và nhờ đó mà nhà Thanh đã bình định được bạo loạn Thái Bình Thiên Quốc. Việc khôi phục lại được lòng tự tin của triều Thanh như vậy cũng đã được thể hiện ở lập trường của toàn quyền sứ tiết (sứ giả) Tăng Kỉ Trạch (con của Tăng Quốc Phiên) trong quá trình đàm phán với Nga xoay quanh việc thu hồi lại vùng Ilinăm 1880. Phía bên Nga lúc bấy giờ cũng phải đưa ra nhận xét “vốn có lòng khinh miệt Trung Quốc nhưng quân đội bình định dân đạo Hồi phía Tây Bắc (quân của Tả Tông Đường) không ngờ lại thuần như vậy, vì thế đã vui vẻ trao trả lại vùng đã chiếm đóng”. Nếu như theo Trương Bội Luân của Thanh nghị phải chỉ trích ra rằng thất bại trong phòng thủ đường biển của Trung Quốc qua hai lần chiến tranh thuốc phiện và sự kiện Đài Loan trong quá khứ, chính là do đã có sai lầm chọn nghị hoà khi đáng ra phải đánh trận trên 3 khu vực Định Hải (Châu Sơn), Tân Cô (Thiên Tân - Đại Cô) và Đài Loan. Về tình hình nửa sau những năm 1870 và đầu những 80, xảy ra một loạt các sự kiện nối đuôi nhau như điều ước với Nga (về vấn đề Ili), vấn đề Ryukyu, và sự kiện ở Việt Nam… việc xảy ra một cuộc chiến vì sự ổn định lâu dài của Trung Quốc là không thể tránh khỏi và Trung Quốc phải nhắm vào mục đích đạt được thắng lợi vẹn toàn. Nếu chiến tranh với Nga thì không được và bản thân Nga cũng không muốn gây chiến, trong khi có thể đánh với Nhật nhưng cho dù có đoạt được Ryukyu thì cũng khó mà giữ được vùng này nên lúc bấy giờ cũng chưa cần thiết phải chiến tranh ngay với Nhật Bản. Riêng đối với trường hợp của Pháp, địa thế Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc gần hơn so vưói Ryukyu, trong khi Pháp lại là quốc gia ở xa, nên Trung Quốc có thể đánh vào cả đằng trước và đằng sau lưng của Pháp. Nhận thức về quốc tế của Trương Bội Luân lúc này là phải cảnh giác đề phòng với Anh, Nga, Đức, thân với Mỹ, trong khi có khuynh hướng xem nhẹ Pháp, một quốc gia bại trận dưới tay Đức, và Nhật Bản, một nước nhỏ trong khu vực.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.