Chuyển đổi hoạt động khai thác, chế biến và dừng xuất khẩu quặng để ngành titan phát triển bền vững
Với lợi thế tài nguyên có sẵn, với hàng chục triệu tấn quặng titan [1] đã được đánh giá, thăm dò, đã và đang phát hiện nhiều tiềm năng tài nguyên titan mới, với việc chế biến sâu quặng titan có thể tăng giá trị của sản phẩm lên 2,6÷10 lần cùng với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động, dịch chuuyển cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, thay thế nhập khẩu (khoảng 40 triệu USD/năm) và đặc biệt để phát triển ngành bền vững, chủ động thì việc đầu tư chế biến sâu quặng titan là một nhu cầu cấp bách.
Vì những lý do khác nhau, các quy định của pháp luật trong nhiều năm qua đã không được tôn trọng, tài nguyên bị lãng phí và môi trường bị tàn phá. Lâu nay, ở nhiều nghành, nhiều địa phương mọi “quy hoạch”, tư duy, tầm nhìn đều chưa vượt khỏi tầm nhìn “nhiệm kỳ”, tầm nhìn “tăng trưởng công nghiệp” của địa phương. Chính vì vậy theo các nguồn tin khác nhau, đặc biệt là trong 3 năm gần đây mỗi năm nước ta xuất khẩu khoảng >600.000 tấn quặng titan [2] (cả ở dạng tinh quặng và quặng thô). Titan cũng chịu chung số phận trong trận cuồng phong “xuất khẩu” không kém gì một số ngành khác, mà hậu quả là các thành viên của Hiệp hội Titan (có công nghệ tiên tiến) bị tranh chấp cả về nguồn nguyên liệu và thị trường.
Tổng quan về khai thác chế biến quặng titan Việt Nam trong thời gian qua có thể tóm lược qua nhận định của một chuyên gia quốc tế hàng đầu ngành titan ở Hội nghị Titan Toàn cầu tại Singapore năm 2007 [6], trao đổi với đại diện Việt Nam: “Các bạn đang bán rẻ titan thô và nhập khẩu hầu hết các sản phẩm được chế biến từ nguồn tài nguyên của chính mình từ những nhà nhập khẩu quặng titan của Việt Nam như: Dupont (Mỹ), ISK (Nhật), Cosmo (Hàn Quốc), Hutsman (Malaysia), Johnson Matthey (Brazil). Việt Nam có thể học được những bài học lớn từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực. Ngay từ bây giờ các nhà sản xuất quặng titan phải tập trung vào ngành chế biến titan, cùng với định hướng đúng của chính quyền, nếu thành công, trong vòng 4 đến 5 năm tới, ngành titan sẽ tham gia đáng kể vào cơ cấu GDP công nghiệp chế biến của Việt Nam, hoặc nếu chỉ khai thác và xuất khẩu quặng thô, thì sau thời gian 7 năm nữa các bạn sẽ cạn kiệt tài nguyên”.
Chính phủ [5] và các Bộ [4] ngành đã và đang cố gắng chỉ đạo, thực hiện các Quy hoạch khoáng sản đã đựơc phê duyệt, lập lại trật tự khai thác chế biến khoáng sản trong đó có quặng titan. Tuy nhiên, trước thềm “dừng suất khẩu” - cuối 2008, sau hơn 1 năm Quy hoạch titan được phê duyệt, thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ khai thác xuất khẩu quặng thô sang khai thác chế biến đồng bộ với chế biến sâu để tăng giá trị sản phẩm và phát triển bền vững, trên nhiều địa phương trong cả nước đang xúc tiến và triển khai xây dựng nhiều dự án chế biến sâu quặng titan. Bước đầu của sự chuyển đổi sang chế biến sâu đựơc thể hiện như sau.
1. Theo đăng kí đầu tư, tại Thái Nguyên, một địa phương có trữ lượng gần 5 triệu tấn quặng titan [3], Công ty TNHH Xây dựng và Phát triển nông thôn miền núi đang đầu tư nhà máy luyện xỉ titan Cây Châm với tổng vốn đầu tư khoảng 105 tỷ đồng cho sản xuất và chế biến xỉ titam theo công nghệ của Trung Quốc, đạt công suất 20.000 tấn xỉ/năm với chất lượng sản phẩm ~92% TiO 2,đồng thời thu được sản phẩm phụ là gang, với sản lượng khoảng 8.000 tấn/năm. Hiện nay, toàn bộ mặt bằng xây dựng đã cơ bản hoàn tất theo đúng thiết kế. Công ty đã ký kết hợp đồng, mời các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc sang khảo sát, thiết kế, lắp ráp thiết bị và chuyển giao công nghệ sản xuất cho nhà máy….Với tiến độ như hiện nay, nhà máy luyện xỉ titan Cây Châm dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2008 và chính thức cho ra sản phẩm vào quý I năm 2009.
2. Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh, ngoài dây chuyền nghiền siêu mịn quặng zircon 6000 t/năm còn đang xúc tiến liên doanh đầu tư nhà máy Pigment Hà Tĩnh.
3. Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO), đầu tư xây dựng mới nhà máy sản xuất xỉ titan [7] (90% TiO 212.000 tấn/năm và gang 7.000 tấn/năm, sử dụng nguồn nguyên liệu quặng của địa phương và trong nước nhằm cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho công ty và Nhà nước.
4. Ngoài 2 dây chuyền chế biến và nghiền siêu mịn quặng zircon đã đầu tư, Công ty Khoáng sản Thừa Thiên - Huế vừa được tỉnh cấp phép đầu tư hơn 100 tỷ đồng xây dựng nhà máy xỉ titan công suất 10.000 tấn/năm, tại xã Lộc Sơn, huyện Phú Lộc. Dự kiến nhà máy sẽ đi vào hoạt động từ tháng 4/2009.
5. Công ty cổ phần Thương mại và Đầu tư Hợp Long đã triển khai dự án khai thác chế biến đồng bộ tại mỏ Suối Nhum, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, có vốn đầu tư hơn 163 tỷ đồng, sẽ khai thác và chế biến 60.000 tấn tinh quặng mỗi năm, dùng làm nguyên liệu cho nhà máy chế biến rutil nhân tạo. Theo kế hoạch, nhà máy tutil này cũng sẽ được xây dựng với vốn đầu tư 120 triệu USD, có công suất 20.000 tấn rutil một năm.
Ngoài ra các cơ sở khác như Cty Cổ phần Sản xuất Thương mại Hữu nghị, Phú Thọ đã đầu tư dây chuyền sản suất ilmenít hoàn nguyên, sản xuất que hàn và đang xúc tiến phát triển công nghệ hoàn nguyên ilmenít cho các cơ sở khác; Cty Cổ phần que hàn điện Việt Đức là một trong các cơ sở đi đầu trong việc chế biến sâu quặng titan, hoàn nguyên ilmenít thay thế nhập khẩu, sản xuất que hàn; Công ty CP Ban Tích đang xúc tiến đầu tư 300 tỷ đồng xây dựng nhà máy chế biến với công suất 32 nghìn tấn ilmenít hoàn nguyên và 20 nghìn tấn xỉ titan/năm…
Đây là những thành viên tiên phong của ngành titan cần được Hiệp hội, Nhà nước quan tâm, không chỉ có khuyến khích mà phải có cơ chế chính sách hỗ trợ trong giai đoạn quá độ để tiếp thu các công nghệ mới này. Cũng như quy luật của chuyển động, mọi sự chuyển hướng đều không tránh khỏi giảm tốc và chấn động. Việc dừng sản xuất quặng tinh, chuyển đổi sang phát triển đồng bộ với chế biến sâu đang có những thuận lợi và thách thức nhất định.
Thuận lợi
- Ngoài lợi thế về tài nguyên, còn có nhu cầu pigment trong nước 15÷20 ngàn tấn/năm và đang tăng; thị trường xỉ titan khu vực và trên thế giới lớn, nhu cầu đang tăng;
- Đầu tư cho luyện xỉ titan có thể thực hiện ở quy mô vừa và nhỏ (5÷10 ngàn tấn/năm) vẫn có hiệu quả kinh tế với mức đầu tư không quá lớn;
- Đội ngũ cán bộ, công nhân của ngành khai thác và chế biến quặng titan Việt Nam đã tích luỹ đựơc nhiều kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh;
- Giá trị gia tăng của sản phẩm chế biến sâu khá lớn: với xỉ titan tăng 2,6÷6 lần; với pigment thông dụng có thể tăng 12÷22 lần so với việc bán quặng tinh. Tuy lãi suất trên 1 đồng vốn có thể không cao bằng bán quặng tinh. Nhưng với xã hội thì giá trị gia tăng đó nằm trong nước ta. Đó chính là hiệu quả KTXH là việc làm, là phát triển các ngành khác như các ngành dịch vụ liên quan, kích thích sản xuất điện, sản xuất H 2SO 4là các sản phẩm phụ từ chế biến quặng sunphua đồng, niken…
- Môi trường kinh tế-xã hội của các địa phương và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã có nhiều thuận lợi;
- Môi trường và cơ hội hợp tác quốc tế, nhập công nghệ, thiết bị hoặc liên doanh ngày càng thuận lợi;
- Việc dừng xuất khẩu quặng titan sẽ tập trung được nguồn nguyên liệu, là cơ sở để quy hoạch phát triển sản xuất: chủ động, đa dạng hoá sản phẩm theo thế mạnh riêng đảm bảo tính bền vững cho các đơn vị thành viên.
Các khó khăn
- Ngành khai thác chế biến titan đã đầu tư, phát triển quá nóng, thiếu quy hoạch, dàn trải trên diện rộng trong nhiều năm nhưng lại không đồng bộ giữa khai thác và chế biến. Việc dừng xuất khẩu quặng sẽ buộc nhiều cơ sở trong đó có cả các thành viên của Hiệp hội phải thu hẹp quy mô khai thác, tuyển, buộc trở thành vệ tinh của các Nhà máy chế biến sâu, thậm chí có thể rời khỏi sân chung của Hiệp hội hoặc trả lại mỏ vì không đủ năng lực đầu tư chế biến sâu;
- Đột ngột giảm thu (chưa có sản phẩm xuất khẩu ngay), tăng chi cho đầu tư cho chế biến mới;
- Khó khăn về giải quyết việc làm cho CBCNV trong thời kỳ quá độ chuyển đổi, do thu hẹp khai thác tuyển để đồng bộ công suất với chế biến;
- Khó khăn do tiếp nhận công nghệ kỹ thuật mới, chưa có kinh nghiệm sản xuất;
- Nguồn điện chưa dồi dào, chưa ổn định, giá khá cao mà chế biến sâu tiêu thụ điện khá lớn;
- Nhu cầu nội địa về xỉ titan hiện nay (khi chưa sản xuất pigment) gần như chưa có, cần phải thực hiện các xúc tiến thương mại, tìm kiếm, đa dạng hoá thị trường tiêu thu;
- Nguồn nguyên liệu phân tán và quản lý chưa tốt, chưa có cơ chế, chính sách hữu hiệu đảm bảo tập chung được ổn định lâu dài cho chế biến, đặc biệt là sản xuất pigment (vốn đầu tư hàng ngàn tỷ VND) thì các nhà đầu tư không thể yên tâm đầu tư sản xuất pigment khi còn xuất khẩu quặng tinh;
- Chế biến sâu đòi hỏi công nghệ cao, chi phí đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm… Và ràng buộc thị trường cao, chịu ảnh hưởng chi phối lớn của thị trường Trung Quốc [8] (46 nhà máy pigment đang sản xuất).
Sự chuyển đổi sẽ làm biến động, khủng hoảng nhất định nào đó về việc làm, về thu nhập của một số người và một số doanh nghiệp, nhưng nếu xuất phát từ hiệu quả KTXH chung, vì sự phát triển bền vững của ngành thì các thành viên “tiên phong” trong chuyển đổi sáng chế biến sâu sẽ là đầu tàu cho Hiệp hội titan ổn định, an toàn tiến về phía trước.
Tuy vậy, nhưng đứng trước câu hỏi “ tiếp tục tồn tại phát triển hay chấp nhận chết yểu” thì Hiệp hội titan Việt nam phải gánh trách nhiệm như một “ Thuyền trưởng” trong việc hướng dẫn các thành viên “chuyển hướng” vì tương lai bền vững của ngành titan.
Kết luận và kiến nghị
- Để sự chuyển đổi theo định hướng quy hoạch thành công, trứơc tiên các nhà quản lý tại các địa phương đang khai thác chế biến quặng titan cần sự hỗ trợ các doanh nghiệp đang áp dụng công nghệ mới, tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội và kiên quyết phối hợp, hỗ trợ Nhà nước thực hiện quy hoạch.
- Hiệp hội Titan việt Nam phải thực sự là “Nhạc trưởng” trong hoạt động của ngành khai thác chế biến quặng titan.
- Nhà nước, chính quyền địa phương cần hỗ trợ bằng những hành động thiết thực trong triển khai đầu tư các nhà máy chế biến sâu như: dành kinh phí phát triển KHCN cho đào tạo nhân lực để tiếp nhận công nghệ mới, lồng ghép kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng của địa phương với xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào của các nhà máy chê biến sâu; ưu tiên cấp điện cho các nhà luyện xỉ titan …
- Có giải pháp đảm bảo chắc chắn nguồn nguyên liệu cho chế biến sâu bằng cách giao chủ đầu tư chế biến sâu vùng nguyên liệu tương ứng để thăm dò, nâng cấp tài nguyên, chủ động xây dựng lịch trình khai, đảm bảo tính tập trung và tiết kiệm tài nguyên.








