Chương trình xóa đói giảm nghèo - Những thành tựu và thách thức trước hội nhập
Theo TS. Nguyễn Hải Hữu, Vụ trưởng Vụ bảo trợ xã hội (Bộ LĐ-TB và XH), trong 5 năm qua, chương trình XĐGN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn như: nhận thức, năng lực trách nhiệm XĐGN được nâng cao, tạo được phong trào XĐGN sôi động trên cả nước và đạt được các mục tiêu giảm nghèo đã đề ra.
Mỗi năm giảm 340.000 hộ nghèo
Trong những năm qua, cùng với tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định, hàng loạt các chính sách XĐGN đã được triển khai đồng bộ ở tất cả các tỉnh với nhiều nguồn kinh phí, đã cải thiện đáng kể diện mạo nghèo đói ở các vùng miền trên cả nước, đặc biệt là khu vực miền núi, hải đảo. Tỷ lệ nghèo đói của cả nước giảm nhanh, từ 30% năm 1992, xuống còn 8,3% năm 2004 và dưới 7% trong năm 2005, bình quân mỗi năm giảm được 340.000 hộ.
Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu giảm nghèo trước 1 năm so với kế hoạch đề ra. Tính đến cuối năm 2005, 12 tỉnh, thành phố cơ bản không còn hộ nghèo (tỷ lệ nghèo dưới 3%), 14 tỉnh tỷ lệ nghèo từ 3-5%, 25 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 5-10%, 12 tỉnh từ 10-15%, chỉ duy nhất có 1 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 15% là Lai Châu (18,98%). Đặc biệt là chất lượng cuộc sống của người dân ở các xã nghèo được nâng cao, nhất là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc ở miền núi và phụ nữ. Cụ thể: thu nhập bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm 2001 là 107.000 đ/người/tháng, năm 2005 tăng khoảng 1,45 lần, chi tiêu bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm 2001 là 121.000 đ/người/tháng, giai đoạn 2002-2005 tăng 8-9%/năm. Một bước đột phá quan trọng của chương trình XĐGN là thành lập quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo và huy động được nguồn lực cho xóa nhà tạm.
Theo TS Hữu, về nhận thức, một số bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tự vươn lên thoát nghèo. Do quá coi trọng về thành tích, ở một số địa phương đã báo cáo tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực tế dẫn đến một bộ phận người nghèo chưa tiếp cận đựơc các chính sách của chương trình, gây ra những hiểu biết sai lệnh về chính sách của Nhà nước. Chương trình chưa bao phủ hết số hộ thực sự nghèo do chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005 quy định còn thấp, nguồn lực của Nhà nước còn khó khăn. Bên cạnh đó, việc xác định đối tượng hộ nghèo ở một số địa phương thiếu chính xác dẫn đến một bộ phận người nghèo không tiếp cận được các chính sách, dự án của chương trình, trong khi một bộ phận không nghèo lại được tiếp cận. Theo chuẩn nghèo, vào cuối năm 2005, cả nước vẫn còn khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc, vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Tây Bắc (42%), Tây Nguyên (38%), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (9%).
Những hạn chế và thách thức
Trong giai đoạn 2006-2010, tình trạng nghèo về phi lương thực thực phẩm (LTTP) là chủ yếu, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn nghèo về LTTP, nghèo tập trung ở một số vùng Tây Nguyên, Tây Bắc và miền Tây của Bắc và Nam Trung Bộ. Nghèo đói do nhiều nguyên nhân nhưng tập trung vào 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu: điều kiện tự nhiên không thuận lợi, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt (thiên tai lụt bão, hạn hán...); thiếu đất, thiếu vốn, thiếu kiến thức SXKD, đông con, thiếu lao động, tập tục lạc hậu, ốm đau, bệnh tật; nguyên nhân thuộc cơ chế, chính sách (chính sách vĩ mô, đầu tư, chi tiêu công, điều hành của các cấp chính quyền), chưa kịp điều chỉnh hệ thống chính sách an sinh xã hội phù hợp.
Thách thức lớn nhất của công cuộc giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 là khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa nhóm giàu và nhóm nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế có xu hướng tiếp tục gia tăng, thể hiện cụ thể: khoảng cách chênh lệch giữa 10% nhóm giầu nhất và 10% nhóm nghèo nhất từ 12,5 lần năm 2002 tăng lên 13,5 lần trong năm 2004; độ sâu của nghèo đói còn khá cao, thu nhập bình quân của nhóm hộ nghèo ở nông thôn theo chuẩn mới (giai đoạn 2006-2010) còn thiếu hụt khoảng 0,3 (chỉ số này biến động từ 0 đến 1, mức độ thiếu hụt càng lớn, mức độ nghèo càng gay gắt); hệ số chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị từ 5-7 lần.
Thách thức thứ hai là tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại do tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo. Hiện tượng chậm lại do nhiều nguyên nhân khác nhau: tác động của hội nhập, thiên tai, rủi ro, các chính sách kinh tế vĩ mô... Hiện tỷ lệ người nghèo là người dân tộc thiểu số còn cao, chiếm khoảng 36% trong tổng số người nghèo. Ngoài ra đã xuất hiện một số nhóm đối tượng nghèo mới ở vùng đô thị hóa do chuyển đổi mục đích sử dụng đất và nhóm người nghèo là dân nhập cư đang tăng lên.
Một thách thức quan trọng nữa là nguy cơ tái nghèo có thể tăng do thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả, tác động của hội nhập (VN gia nhập WTO) và phát triển kinh tế thị trường, cơ hội của người nghèo về việc làm ngày càng khó khăn hơn do đổi mới khoa học công nghệ, biến động về đầu tư phát triển kinh tế giữa các vùng không đồng đều.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam - No.174 [ 2006-08-31 ]








