Chứng dương minh kinh trị lầm phát sinh biến chứng
Chứng dương minh kinh khá phức tạp, cho nên khi điều trị lầm phát sinh biến chứng rất dễ lầm lẫn trong chẩn đoán phân biệt. Điều 221 sách Thương hàn luận nói: “Bệnh dương minh mạch tượng phù khẩn, họng khô, miệng đắng, bụng đầy trướng, thở dồn, phát sốt, ra mồ hôi, không sợ lạnh mà sợ nóng, toàn thân có cảm giác nặng nề. Nếu như thầy thuốc lầm dùng phương pháp phát hãn, sẽ phát sinh biến chứng tâm phiền loạn mà tinh thần hôn ám, nói sảng.
- Nếu điều trị lầm dùng phương pháp ôn châm, tất nhiên sẽ phát sinh biến chứng sợ hãi không yên, bứt rứt, bực dọc, mất ngủ.
- Nếu điều trị, lầm dùng phương pháp công hạ, phát sinh biến chứng vị khí bị thương tổn, tà nhiệt quấy nhiễu vùng hung cách (ngực và cơ hoành) sẽ hiện ra triệu chứng, tâm phiền không thư thái mà lưỡi có rêu cáu vàng trắng, mỏng nhớt, có thể dùng chi tử sị thang điều trị”.
Hội chứng nói trong điều 221 trên đây rất giống với tam dương hợp bệnh; cho nên có một số nhà nghiên cứu lấy tam dương hợp bệnh để giải thích trường hợp này. Nhưng xét kỹ tinh thần của điều 221, thì không phải là tam dương hợp bệnh. Trước hết xét theo chứng thái dương, hàn tà làm thương tổn phần biểu của thái dương, tấu lý bế tắc, mạch thường có tượng phù khẩn nhưng ngoại tà làm thương tổn kinh thái dương, tất nhiên hiện ra biến chứng thái dương; trường hợp này không thấy có biểu chứng khác mà chỉ thấy mạch tượng phù khẩn đã vội vã kết luận là chứng thái dương, tất nhiên không đúng. Hơn nữa, chứng dương minh nhiệt thịnh cũng có thể thấy mạch tượng này. Tượng phù là kinh nhiệt thịnh, tượng khẩn là tà khí thực.
Thứ hai, xét theo chứng thiếu dương. Bệnh thiếu dương là giai đoạn quá độ của tà khí từ biểu vào lý hoá táo thành nhiệt; cho nên bệnh thiếu dương tất có các triệu chứng miệng đắng, họng khô. Trình độ táo nhiệt của bệnh dương minh còn nặng hơn bệnh thiếu dương, đương nhiên cũng có thể thấy có các triệu chứng họng khô, miệng đắng. Điều đó có thể lý giải được. Đến như các triệu chứng bụng đầy trướng mà phát suyễn, như do dương minh phủ thực, phân táo kết ở trong gây ra, tất nhiên phát sinh các triệu chứng trào nhiệt, nói sảng. Chứng nói trong điều 221 không có các triệu chứng đó, tự nhiên không phải là phủ chứng dương minh.
Lại kết hợp với các triệu chứng ra mồ hôi, sợ nóng, thân thể có cảm giác nặng nề, có thể thấy cơ chế chủ yếu của chứng bệnh này không ra ngoài kinh dương minh nhiệt thịnh. Đã không phải là tà khí của thái dương, thiếu dương, cũng chưa đến trình độ dương minh phủ thực, cho nên các phương pháp phát hãn, công hạ, ôn châm, đều không thể sử dụng.
Do tình hình bệnh chứng phức tạp mà dễ dẫn tới chẩn đoán và điều trị sai lầm. Trong điều 221 liệt kê các loại biến chứng phát sinh do điều trị lầm, để giúp người thầy thuốc nhận thức được đầy đủ và sâu sắc của hậu quả nghiêm trọng phát sinh do điều trị lầm:
1 - Lầm dùng phương pháp phát hãn làm cho tân dịch thêm thương tổn tạo thành dương minh phủ thực mà phát sinh các triệu chứng phiền táo không yên, tâm loạn, nói sảng.
2 - Lầm dùng phương pháp ôn châm thì hoả tà bức bách vào trong, làm tổn thương tâm thần mà phát sinh sợ hãi không yên, phiền táo mất ngủ, các biến chứng có liên quan đến tâm hoả.
3 - Lầm dùng phương pháp công hạ thì tà nhiệt vô hình phạm vào khoảng hung cách phát sinh biến chứng tâm phiền loạn không yên. Khi đó, tất nhiên rêu lưỡi mỏng nhớt, hơi vàng. Có thể dùng chi tử sị thang điều trị.
Bệnh dương minh, thầy thuốc trong điều trị, lầm dùng công hạ sớm làm cho nhiệt lưu lại trong hung cách phát sinh biến chứng. Điều 228 sách Thương hàn luận nói:
“Bệnh dương minh, sau khi dùng phương pháp công hạ điều trị, phần biểu cơ thể có nhiệt, tay chân ấm, không có hiện tượng kết hung. Nhưng người bệnh có cảm giác tâm phiền không thư thái, cồn cào tựa như đói mà không ăn được, chỉ có bộ phận đầu ra mồ hôi. Điều trị dùng chi tử sị thang.
Chứng phủ thực dương minh do phân táo kết ở trong. Không thể dùng phương pháp công hạ điều trị. Nếu như sau khi công hạ, phân táo rút, tà nhiệt tiết ra, bệnh có thể khỏi. Trường hợp phủ chứng chưa thực (không có phân táo nội kết) mà dùng phương pháp công hạ sớm; chẳng những tà nhiệt không thể thanh trừ lại còn gây ra biến chứng. Hay thấy nhất là tà nhiệt lưu lại trong hung cách tạo thành chi tử sị thang chứng. Bên ngoài có nhiệt là tà nhiệt chưa hết, trong tâm phiền loạn, có cảm giác mà không ăn được là đặc trưng của nhiệt quấy nhiễu hung cách. Chỉ có bộ phận đầu ra mồ hôi cũng là triệu chứng của nhiệt từ hung cách bốc lên. Cho nên dùng chi tử sị thang điều trị.
Tham khảo điều 221 trên đây thấy cơ chế bệnh hoàn toàn nhất trí với điều 228.
Theo danh ý Thi Trì Viễn, cơ chế của chứng bệnh nói trong điều 228 là sau khi công hạ sớm dương khí bị thương tổn, nên dùng trị phát phù dương để lý tỳ khai vị không nên dùng chi tử sị thang. Nhưng đa số các nhà nghiên cứu cho rằng phân tích kỹ mạch tượng và triệu chứng, thấy là rất khó tìm ra triệu chứng âm hàn, cho nên không nhất trí với ý kiến Thư Trì Viễn.
Trường hợp bệnh dương minh đã dùng phương pháp công hạ nhưng chưa triệt để, và trường hợp phân lúc đầu cứng, sau lỏng nát, điều 238 sách Thương hàn luận nói:
“Bệnh dương minh sau khi dùng phương pháp công hạ, trong tâm phiền loạn không thư thái, do phân táo trong đường ruột chưa hết, có thể tiếp tục dùng phương pháp công hạ. Nếu như vùng bụng có cảm giác đầy trướng nhẹ, phân lúc đầu tuy cứng nhưng về sau tất là lỏng nát thì không thể dùng phương pháp công hạ. Nếu như có phân táo kết ở trong, có thể dùng đại thừa khí thang điều trị.
Công hạ là phương pháp điều trị chính đối với chứng phủ thực dương minh. Chỉ cần sử dụng thích đáng, triệu chứng sẽ rút mau chóng. Trường hợp nói trong điều 238, sau khi dùng phương pháp công hạ điều trị, người bệnh có triệu chứng tâm phiền loạn không thư thái thì có thể biết là tà khí chưa hoàn toàn tiêu trừ.
Trên lâm sàng, nên phân biệt khi chẩn đoán trường hợp sau khi công hạ thấy tâm phiền loạn do nhiệt tà không trừ hết mà lưu lại trong hung cách thuộc chi tử sị tháng chứng, và trường hợp phân táo chưa rút, tích trệ trở ngại bên trong thuộc đại thừ khí thang chứng. Trường hợp đó tất phải kết hợp với các triệu chứng khác mà chẩn đoán phân biệt.
Trọng điểm biện chứng là trong ruột có phân táo là có thể công hạ. Nếu thấy bụng đầy, phân táo hoặc đau quanh rốn là biểu hiện thực phiền (tâm phiền thực tính) có thể dùng đại thừa khí thang tiếp tục công hạ. Nếu thấy bụng đầy trướng nhẹ là biết rằng phân táo chưa hình thành; cho nên điều 238 nói phân lúc đầu cứng sau tất lỏng, không thể công hạ, chứng tâm phiền trong điều 238 không phải là thực phiền của thừa khí thang chứng cũng không phải là hư phiền của chi tử sị thang chứng. Tham khảo điều 79 sách Thương hàn luận nói: bệnh thương hàn, sau khi công hạ, tâm phiền, bụng đầy... dùng chi tử hậu phác thang (chi tử, hậu phác chích, chỉ thực chích) điều trị. Trường hợp này có thể châm chước vận dụng.
Nguồn: T/c Đông y, số 349, 25/5/2003, tr 6, 7








