Chủ nghĩa thực dân hồ sơ chưa khép lại
Cuộc hành trình của các nhà hàng hải từ cuối thế kỷ XV đã mở ra nhiều chân trời mới dưới con mắt người châu Âu. Thương nhân, các nhà truyền giáo cùng quân đội đi tìm những vùng đất mới để khai phá, di dân và cướp đoạt. Ngọn cờ của các quốc gia phương Tây cắm lên các miền lãnh thổ xa xôi, xác lập quyền chiếm đoạt, tạo nên các lãnh thổ phụ thuộc. Chủ nghĩa thực dân ra đời với hệ thống thuộc địa ngày càng mở rộng. Đã từ lâu rồi, người ta ca ngợi đó là công cuộc “khai hoá văn minh”.
Tại xứ sở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ đã từng có một sự chuyển động từ khi người phương Tây đặt chân tới. Sự xâm nhập của kinh tế hàng hoá đã lôi cuốn những vùng xa xôi hẻo lánh của hành tinh vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Một số thành thị xuất hiện, nhà máy mọc lên, đường giao thông lan toả, hoạt động kinh tế sôi động. Nền giáo dục theo chương trình cách tân, bệnh viện theo phép điều trị mới dần dần xuất hiện. Những hiện tượng đó ít nhiều làm cho bộ mặt các thuộc địa có thay đổi, và người phương Tây tự hào khoe khoang đó là “công lao khai hoá” của họ ở những “xứ sở tăm tối” này.
Các nhà sử học chân chính coi đây là một hiện tượng lịch sử và đánh giá nó một cách khách quan. Tác động của kinh tế tư bản khi xâm nhập vào các thuộc địa đã phá vỡ tính cô lập và khép kín của nền kinh tế tự nhiên, thúc đẩy sự giao lưu hàng hoá trên thị trường trong nước và buôn bán với nước ngoài, gieo rắc mầm mống tư bản chủ nghĩa vào các hoạt động kinh tế thuộc địa. Từ đó đã tạo nên những sự biến đổi về cơ cấu giai tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội.
Song phía sau sự mới lạ của nền văn minh phương Tây đó, đã xảy ra những điều gì ở các thuộc địa. Thực tế bi thảm và hãi hùng của người dân thuộc địa đã được nhiều sách báo đương thời mô tả một cách chân thực và sinh động. Chỉ riêng bộ mặt của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, bạn đọc có thể tìm thấy ít nhất trong 2 cuốn sách: một của người Việt Nam được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1925 - Bản án chế độ thực dân Phápcủa Nguyễn Ái Quốc; cuốn thứ hai của nhà hoạt động xã hội Pháp André Viollis đã công bố kết quả điều tra trong Đông Dương cấp cứuvào năm 1936.
Chỉ qua 2 cuốn sách đó thôi cũng đủ để trả lời những câu hỏi về cái được gọi là công cuộc khai hoá của thực dân Pháp ở Đông Dương cũng như ở châu Phi là vì ai và cho ai? Phải chăng các nhà tư bản “tốt bụng” từ phương Tây đã vượt biển ngàn dặm để đem đến nơi đây ánh điện và đường xe lửa, nhà máy và cầu cống cho người dân bản xứ được hưởng, được nếm mùi để biết thế nào là văn minh phương Tây! Rõ ràng là không phải như thế, ngàn lần không phải như thế.

Dưới con mắt của các nhà thực dân, thuộc địa chính là nơi vơ vét và bòn rút của cải bằng quyền lực và roi vọt: là thị trường tiêu thụ độc quyền các loại hàng hoá bằng hàng rào quan thuế; là nơi khai thác không giới hạn các nguồn nguyên liệu bằng mồ hôi nước mắt của người thợ mỏ, người phu đồn điền; là địa bàn đầu tư trên nguồn sức lao động rẻ mạt mang nhiều dấu vết thời trung cổ. Và khi chiến tranh bùng nổ bên trời Âu thì người dân thuộc địa bị điều động đi lính trở thành một thứ bia đỡ đạn, phải đóng một loại “thuế máu” để bảo vệ “mẫu quốc”. Thuộc địa, tóm lại, chính là “cái dạ dày của đế quốc” như định nghĩa của ngoại trưởng Anh Disraeli thế kỷ 19, nó bòn rút từ thuộc địa để nuôi sống đế quốc. 






