Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 01/09/2006 23:50 (GMT+7)

Chủ nghĩa thực dân hồ sơ chưa khép lại

Cuộc hành trình của các nhà hàng hải từ cuối thế kỷ XV đã mở ra nhiều chân trời mới dưới con mắt người châu Âu. Thương nhân, các nhà truyền giáo cùng quân đội đi tìm những vùng đất mới để khai phá, di dân và cướp đoạt. Ngọn cờ của các quốc gia phương Tây cắm lên các miền lãnh thổ xa xôi, xác lập quyền chiếm đoạt, tạo nên các lãnh thổ phụ thuộc. Chủ nghĩa thực dân ra đời với hệ thống thuộc địa ngày càng mở rộng. Đã từ lâu rồi, người ta ca ngợi đó là công cuộc “khai hoá văn minh”.

Tại xứ sở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ đã từng có một sự chuyển động từ khi người phương Tây đặt chân tới. Sự xâm nhập của kinh tế hàng hoá đã lôi cuốn những vùng xa xôi hẻo lánh của hành tinh vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Một số thành thị xuất hiện, nhà máy mọc lên, đường giao thông lan toả, hoạt động kinh tế sôi động. Nền giáo dục theo chương trình cách tân, bệnh viện theo phép điều trị mới dần dần xuất hiện. Những hiện tượng đó ít nhiều làm cho bộ mặt các thuộc địa có thay đổi, và người phương Tây tự hào khoe khoang đó là “công lao khai hoá” của họ ở những “xứ sở tăm tối” này.

Các nhà sử học chân chính coi đây là một hiện tượng lịch sử và đánh giá nó một cách khách quan. Tác động của kinh tế tư bản khi xâm nhập vào các thuộc địa đã phá vỡ tính cô lập và khép kín của nền kinh tế tự nhiên, thúc đẩy sự giao lưu hàng hoá trên thị trường trong nước và buôn bán với nước ngoài, gieo rắc mầm mống tư bản chủ nghĩa vào các hoạt động kinh tế thuộc địa. Từ đó đã tạo nên những sự biến đổi về cơ cấu giai tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội.

Song phía sau sự mới lạ của nền văn minh phương Tây đó, đã xảy ra những điều gì ở các thuộc địa. Thực tế bi thảm và hãi hùng của người dân thuộc địa đã được nhiều sách báo đương thời mô tả một cách chân thực và sinh động. Chỉ riêng bộ mặt của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, bạn đọc có thể tìm thấy ít nhất trong 2 cuốn sách: một của người Việt Nam được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1925 - Bản án chế độ thực dân Phápcủa Nguyễn Ái Quốc; cuốn thứ hai của nhà hoạt động xã hội Pháp André Viollis đã công bố kết quả điều tra trong Đông Dương cấp cứuvào năm 1936.

Chỉ qua 2 cuốn sách đó thôi cũng đủ để trả lời những câu hỏi về cái được gọi là công cuộc khai hoá của thực dân Pháp ở Đông Dương cũng như ở châu Phi là vì ai và cho ai? Phải chăng các nhà tư bản “tốt bụng” từ phương Tây đã vượt biển ngàn dặm để đem đến nơi đây ánh điện và đường xe lửa, nhà máy và cầu cống cho người dân bản xứ được hưởng, được nếm mùi để biết thế nào là văn minh phương Tây! Rõ ràng là không phải như thế, ngàn lần không phải như thế.

Yết thị dán trên đường phố Vinh ngày 3-9-1930, cảnh cáo dân chúng chớ có nghe theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Dưới con mắt của các nhà thực dân, thuộc địa chính là nơi vơ vét và bòn rút của cải bằng quyền lực và roi vọt: là thị trường tiêu thụ độc quyền các loại hàng hoá bằng hàng rào quan thuế; là nơi khai thác không giới hạn các nguồn nguyên liệu bằng mồ hôi nước mắt của người thợ mỏ, người phu đồn điền; là địa bàn đầu tư trên nguồn sức lao động rẻ mạt mang nhiều dấu vết thời trung cổ. Và khi chiến tranh bùng nổ bên trời Âu thì người dân thuộc địa bị điều động đi lính trở thành một thứ bia đỡ đạn, phải đóng một loại “thuế máu” để bảo vệ “mẫu quốc”. Thuộc địa, tóm lại, chính là “cái dạ dày của đế quốc” như định nghĩa của ngoại trưởng Anh Disraeli thế kỷ 19, nó bòn rút từ thuộc địa để nuôi sống đế quốc.

Người dân thuộc địa, những người lao động cực nhọc để làm ra lúa gạo và vải vóc thì phải sống trong đói rét và tủi nhục vì đủ các loại thuế khoá đổ lên đầu họ, đủ các hình thức lao dịch không công ràng buộc họ và đủ các hình phạt dã man đe doạ cuộc sống của họ. “Tự do, bình đẳng, bác ái” - tôn chỉ cao cả của Cách mạng Pháp khi sang tới thuộc địa chỉ còn là khẩu hiệu suông, còn người dân bản xứ thì được hưởng quyền tự do bị bóc lột và hành hạ, quyền bình đẳng được rao như chiếc bánh vẽ và bác ái chỉ còn là cái thùng trống rỗng. Tất cả chỉ là sự lừa gạt không hơn, không kém.

Đương nhiên, sự giả dối đó phải bị trả giá bằng sự phẫn nộ của quần chúng, bằng những cuộc nổi dậy và chủ nghĩa thực dân đã lộ nguyên hình bằng những cuộc khủng bố tàn bạo, những vụ trấn áp đẫm máu. Nhân quyền và Dân quyền của bản Tuyên ngôn năm 1789 được thực thi trong trại giam, trong nhà tù bằng những cuộc tra tấn nhục hình và những xụ xử tử hàng loạt.

Cuối cùng, lòng yêu nước và chí quật cường của các dân tộc bị áp bức đã bùng lên thành những cao trào đấu tranh giải phóng. Nhưng chủ nghĩa thực dân Pháp vẫn chưa tỉnh ngộ. Phải trải qua những thất bại thảm hại tại Việt Nam và tại Angiêri vào những năm 50-60 thì nước Pháp mới thực sự thừa nhận sự tan vỡ của hệ thống thuộc địa và thi hành chính sách phi thực dân hoá đối với các thuộc địa còn lại.

Ngày nay, các quốc gia giành được độc lập từ những thuộc địa năm xưa đã hoà hợp cùng nhau nhìn về phía trước với sự hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Từ Việt Nam, các nhà sử học đã viết lịch sử thời kỳ thuộc địa trên tinh thần nghiêm túc, tôn trọng sự thật, lên án chủ nghĩa thực dân mà không phủ nhận những tác động khách quan của nó. Đó thực sự là một thái độ khoa học, minh bạch và công bằng đối với lịch sử.

Đáng tiếc rằng gần đây, Quốc hội Pháp đã ban hành đạo luật đòi hỏi các nhà sử học phải “đặt sự hiện diện của nước Pháp ở hải ngoại vào vị trí xứng đáng của lịch sử”, các chương trình giáo khoa “đặc biệt phải thừa nhận vai trò tích cực của sự hiện diện Pháp ở hải ngoại”… Nghĩa là phải viết lại lịch sử chủ nghĩa thực dân đầy tội ác bằng những trang sách ngợi ca, chối bỏ sự thực, lừa dối hậu thế. Các nhà sử học chân chính của nước Pháp đã lên tiếng phản đối. Ngòi bút không thể bẻ cong, lương tri không thể nhuốm bẩn.

Hãy để cho lịch sử tự nó nói lên sự thực. Vì thế, về chủ nghĩa thực dân, đến hôm nay, hồ sơ vẫn chưa khép lại.

Nguồn: Xưa & Nay, số 259, 5/2006
Yết thị dán trên đường phố Vinh ngày 3-9-1930, cảnh cáo dân chúng chớ có nghe theo những lời tuyên truyền của cộng sản.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.