Chủ động phòng ngừa bệnh viêm màng não
Đường lây truyền
Vi khuẩn được truyền từ người sang người qua các hạt nước bọt nhỏ hoặc chất tiết ở họng. Các tiếp xúc gần và lâu,ví dụ: hôn, hắt hơi và ho trực tiếp vào người khác; sống ở những nơi tập trung (trại lính, ký túc xá); dùng chung các đồ ăn, đồ uống...) tạo điều kiện cho sự lan truyền bệnh. Thời gian ủ bệnh khoảng 4 ngày, dao động từ 2-10 ngày.
Não mô cầu chỉ nhiễm ở người, không có ở động vật cũng như trong môi trường tự nhiên. Vi khuẩn này có thể sống ở vùng hầu họng mà không gây bệnh, vì những lý do nào đó (vẫn chưa được biết tường tận), chúng vượt qua sự phòng vệ của cơ thể gây nhiễm khuẩn máu, di chuyển tới não gây viêm não. Ước tính khoảng 10-25% dân số mang vi khuẩn não mô cầu nhưng không mắc bệnh, nhưng tỷ lệ này sẽ cao hơn khi dịch xảy ra.
Biểu hiện chính của bệnh
Triệu chứng phổ biến nhất là cứng cổ, sốt cao, nhạy cảm với ánh sáng, lú lẫn, đau đầu và nôn. Kể cả khi được chẩn đoán sớm và điều trị đúng phác đồ, khoảng 5-10% số bệnh nhân vẫn tử vong, chủ yếu trong vòng từ 24-48 giờ sau khi khởi bệnh. Vi khuẩn não mô cầu gây tổn thương não, mất thính giác hoặc mất khả năng học tập chiếm khoảng 10-20% những trường hợp sống sót. Ít phổ biến nhưng thể nặng của viêm màng não do não mô cầu (thường tử vong) là thể viêm màng não kèm nhiễm khuẩn máu được biểu hiện bằng các ban xuất huyết hoại tử và suy tuần hoàn nhanh chóng.
Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, nhưng trẻ em và thanh niên thường mắc nhiều hơn. Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể chỉ là những triệu chứng không bình thường như quấy khóc, bú kém hoặc nôn. Thóp của trẻ thường phồng, nhưng nếu nôn nhiều quá có thể trở nên lõm.
Chẩn đoán xác định bằng cách nào?
Chẩn đoán lâm sàng viêm màng não do não mô cầu thông qua các triệu chứng và thấy mủ trong dịch não tủy; đôi khi có thể nhìn thấy vi khuẩn ở trong dịch não tủy bằng kính hiển vi. Chẩn đoán xác định bằng nuôi cấy vi khuẩn trong mẫu dịch não tủy hoặc máu. Đôi khi cần phải tiến hành các xét nghiệm đặc hiệu để xác định týp huyết thanh cũng như tính nhạy cảm của vi khuẩn với các loại kháng sinh giúp cho quá trình điều trị đạt hiệu quả cao cũng như để giám sát bệnh trong cộng đồng.
Điều trị hiệu quả bằng thuốc gì?
Bệnh viêm màng não có nguy cơ tử vong cao và thường biểu hiện cấp tính, cần phải đưa ngay bệnh nhân đến bệnh viện hoặc trung tâm y tế. Không cần thiết phải cách ly bệnh nhân. Các phác đồ điều trị chống nhiễm khuẩn phải được thực hiện sớm nhất, có thể sau khi chọc dịch não tủy (nếu sử dụng trước, khó có thể nuôi cấy được vi khuẩn trong dịch não tủy để chẩn đoán xác định).
Một số loại kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị bệnh bao gồm penicilin, ampicilin, chloramphenicol và ceftriaxon.
Có dự phòng được không?
Hiện đã có các loại vaccin để phòng chống bệnh viêm màng não do não mô cầu. Các vaccin polisacarit đã được phát triển từ 30 năm trở lại đây với sự kết hợp khác nhau giữa các týp huyết thanh A, C, Y và W135. Các vaccin polisacarit chỉ có khả năng bảo vệ trong vòng 3-5 năm và không thể dùng cho trẻ dưới 2 tuổi vì nó không có khả năng kích thích sinh kháng thể.
Vaccin cộng hợp đơn giá đối với týp huyết thanh C hiện đã được cấp phép lưu hành ở các nước phát triển để dùng cho trẻ em, vaccin này có khả năng gây miễn dịch tốt đặc biệt đối với trẻ dưới 2 tuổi.
Tất cả các vaccin đều được chứng minh là an toàn, hiệu quả, các phản ứng phụ xảy ra nhẹ và hiếm. Các vaccin thường có tác dụng bảo vệ sau khi tiêm từ 10-14 ngày.
Trong trường hợp các ca bệnh xuất hiện, những người tiếp xúc với các ca bệnh đó cần được tiêm phòng vaccin và sử dụng kháng sinh dự phòng trong thời gian vaccinchưa có khả năng bảo vệ.







