Chóng mặt do dương hư, thuỷ đình tụ
- Sau khí công hạ, lại phát hãn, thấy mạch tượng Vi Tế, tất là phát sinh rét run rồi bệnh giải. Đó là do biểu và lý đều hư. (Điều 60 sách Thượng hàn luận).
- Trường hợp bệnh Thái dương chưa giải, vô luận khinh án hoặc trọng án, mạch tượng đều bình hoà, cơ thể trước phát sinh rét run, rồi sau ra mồ hôi mà bệnh khỏi. Nếu như chỉ khinh án, thấy mạch tượng vi, là biểu thị bệnh tà tại biểu, dùng hãn pháp điều trị, bệnh sẽ khỏi. Nếu như chỉ trọng án, mà mạch tượng vi, là biểu thị bệnh tà tại lý; dùng phương pháp công hạ điều trị, bệnh sẽ khỏi. (Điều 94). Trường hợp mạch tượng bình hoà, rét run, ra mồ hôi bệnh khỏi là do cơ chế tà khí và chính khí giao tranh; chính khí thắng tà khí. Trường hợp trọng án mạch tượng vi thì không phải là mạch có tính chất vi nhược, mà là do cơ chế tà trệ mà mạch đạo “tế phục”. Tà trệ ở kinh, biểu khí, không điều đạt; cho nên khinh án, mạch vi. Tà trệ ở phủ, lý khí không thông sướng; cho nên trọng án, mạch vi.
- Hai điều 101, 149 là chứng thiếu dương lầm công hạ; Điều 110 là bệnh thái dương lầm công hạ. Lầm công hạ, tất nhiên làm thương tổn chính khí; cho nên muốn ra mồ hôi để giải bệnh tà, đều phải qua rét run.
Nói chung, rét run rồi bệnh giải là do cơ chế dương khí trong cơ thể người ta đã suy nhược, cố gắng đấu tranh chống bệnh tật, và cuối cùng chính khí thắng, tà khí suy, khu trừ bệnh tật.
Sau khi dùng phương pháp thôi thổ, công hạ, dẫn tới cục thế dương hư, thuỷ đình tụ, phát sinh triệu chứng chóng mặt; điều 67 sách Thương hàn luận nói: “bệnh thương hàn hoặc đã dùng phương pháp thôi thổ, hoặc đã công hạ, có cảm giác vùng thượng vị đầy tức, vào có khí nghịch dồn lên ngực, khi đứng lên có cảm giác chóng mặt, mạch tượng trầm mà khẩn. Nếu như khi đó lại dùng phương pháp phát hãn sẽ ảnh hưởng tới kinh mạch mà xuất hiện triệu chứng thân thể run rẩy chao đảo. Cho nên cấm dùng phương pháp phát hãn mà dùng phục linh quế chi bạch truật cam thảo thang điều trị”.
Điều 67 chia ra 3 đoạn phân tích:
1 - Từ “bệnh thương hàn...” đến “... mạch tượng trầm mà khẩn”. Đoạn này thuật lại triệu chứng sau khi thôi thổ, hoặc công hạ. Thôi thổ có thể làm thương tổn phủ vị, công hạ có thể làm thương tổn tạng tỳ. Tỳ vị trong học thuyết ngũ hành đều thuộc thổ trung tiêu, lại làm chủ trung khí. Tỳ vị do thôi thổ, công hạ mà trung khí hư nhược. Thổ hư tất là thuỷ không bị chế ước, cho nên không đi xuống mà nghịch lên.
Dương khí trung tiêu bị hư thì tà khí thuỷ âm dồn lên xâm phạm tâm, gây chướng ngại vùng thượng vị; do đó vùng dưới tâm có cảm giác bĩ tức, khí công lên ngực. Thuỷ ẩm làm trở ngại trung tiêu, thanh dương mất đường thăng lên, do đó phát sinh triệu chứng chóng mặt. Các triệu chứng nói trên không thuộc cơ chế hàn tà phạm biểu mà do phần lý có thuỷ ẩm nội đình; cho nên mạch tượng không phù khẩn mà trầm khẩn.
2 - Từ “nếu như khi đó lại dùng phương pháp phát hãn...” đến “... thân thể run rẩy chao đảo”. Đoạn này nói rõ là không thể phát hãn. Nếu lầm phát hãn là phạm phải điều cấm kỵ “hư hư” (làm hư nhược thêm một cơ thể vốn đã hư yếu).
Căn cứ vào các điều nói trên, ta thấy triệu chứng chóng mặt trong trường hợp này là thuộc cơ chế dương khí trung tiêu hư nhược mà thuỷ ẩm nghịch lên gây bệnh. Điều trị nên ôn dương khí trung tiêu, bồi bổ lý hư, giáng thuỷ ẩm thượng nghịch.
Nếu lại lầm phát hãn làm hư yếu thêm biểu dương, dẫn tới dương khí biểu lý đều hư, tà khí thuỷ ẩm tất là càng thêm mạnh mẽ, cho nên lại xuất hiện thêm triệu chứng “thân thể run rẩy, chao đảo”. Điều trị trường hợp này, kinh nghiệm vận dụng bài chân vũ thang điều trị dương hư thuỷ động tuỳ theo thực tế lâm sàng.
3 - Từ “cấm dùng phương pháp phát hãn...” đến hết điều văn. Đoạn này thuyết minh về nguyên tắc điều trị: Trước khi lầm dùng phương pháp phát hãn, nên dùng linh quết truật cam thang. Khi đã điều trị lầm, xuất hiện triệu chứng thân thể run rẩy, chao đảo, nên vận dụng bài chân vũ thang tuỳ theo khinh trọng hoãn cấp.
Phục linh quế chi bạch truật cam thảo thang phương.
Phục linh, quế chi cao vỏ, bạch truật, cam thảo chích.
Phục linh, bạch truật sinh tân dịch, bổ ích dương khí. Theo nguyên tác “dương khí bất túc, bồi bổ dùng vị cam ôn”.
Quế chi, cam thảo hành dương khí, tán tà khí theo nguyên tắc “điều lý khí nghịch, dùng vị tân ôn để tán khí”.
Chân vũ thang phương
Phục linh thược dược sinh khương bạch truật hắc phụ tử.
Phụ tử ôn trung tán hàn
Linh truật bồi thổ, chế thuỷ
Thược dược liễm âm, hoà dương
Sinh khương tuyên dương
Trường hợp phát hãn quá độ, thận dương hư, thuỷ khí nội động phát sinh chóng mặt, điều 82 sách Thương hàn luận nói:
“Bệnh thái dương, dùng phương pháp phát hãn giải biểu. Nhưng sau khi ra mồ hôi, bệnh thế không giải trừ, người bệnh vẫn phát sốt, lại thêm đánh trống ngực, chóng mặt, thân thể máy động, chao đảo muốn ngã. Điều trị có thể dùng chân vũ thang”.
Bệnh thái dương, điều trị dùng phương pháp phát hãn giải biểu là đúng. Nhưng trường hợp này, mồ hôi lại ra quá nhiều. Biểu tà tuy giải, nhưng tạo thành biến chứng “quá hãn vong dương” gây ra thuỷ khí nội động.
Phân tích như sau:
1 - “Vẫn phát sốt”. Vẫn phát sốt ở đây không phải là “biểu tà phát sốt” mà thuộc cơ chế mồ hôi ra quá nhiều, hư dương phù việt ra ngoài mà phát sốt.
2 - “Đánh trống ngực, chóng mặt” là do thận dương hư, không chế ước được thuỷ. Thuỷ khí nghịch lên gây bệnh.
Thuỷ nghịch phạm tâm, cho nên tim đập mạnh, thanh dương không thăng, cho nên chóng mặt.
3 - Thân thể máy động, chao đảo muốn ngã là do dương hư không làm ấm được cân mạch gây ra.
Bệnh thế đã từ thái dương chuyển vào thiếu âm, cho nên dùng chân vũ thang, mạch thận dương, tán thuỷ khí.
Tham khảo điều 67 nói trên “lầm phát hãn, làm động kinh mạch” gây ra thân thể run rẩy, chao đảo là cũng thuộc một cơ chế bệnh.
“Đánh trống ngực” trong điều 82 với đánh trống ngực điều 64 sách Thương hàn luận là không hoàn toàn tương đồng, vì đánh trống ngực trong điều 64 thuộc cơ chế phát hãn làm tổn thương tâm dương. Điều trị dùng quế chi cam thảo thang (quế chi cạo vỏ, cam thảo chích).








