Chính sách chế biến, sử dụng tài nguyên khoáng sản nhằm phát triển bền vững công nghiệp mỏ Việt Nam
Việc khai thác, chế biến, sử dụng tài nguyên khoáng sản sao cho hợp lý, tiết kiệm, góp phần vào sự phát triển bền vững của công nghiệp mỏ nói riêng, kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung đang ngày càng trở nên bức thiết. Trong khuôn khổ của bài báo này, chỉ xin đóng góp một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong các chủ trương, chính sách chế biến, sử dụng tài nguyên khoáng sản, góp phần phát triển bền vững công nghiệp mỏ Việt Nam.
Theo quan điểm của chúng tôi, phương hướng phát triển chung của công nghiệp mỏ Việt Nam là lựa chọn và áp dụng công nghệ khai thác, chế biến hợp lý, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam nhằm các mục tiêu:
- Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu về nguyên liệu khoáng cho các ngành công nghiệp trong nước trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá;
- Tăng nhanh khối lượng chủng loại hàng hoá và giá trị nguồn hàng xuất khẩu;
- Tận thu và sử dụng tổng hợp nguồn tài nguyên (thu hồi các khoáng vật cộng sinh);
1. Các giải pháp về công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi và sử dụng tổng hợp tài nguyên khoáng sản
a. Thiết lập các sơ đồ công nghệ, thiết bị mẫu với quy mô thích hợp cho khai thác, chế biến một số khoáng phổ biến
Nguồn tài nguyên khoáng sản nước ta (nhất là khoáng sản kim loại màu) đa phần có trữ lượng nhỏ, manh mún, phân bố không tập trung. Các cơ sở khai thác, chế biến chúng thường có quy mô nhỏ. Đó là nguyên nhân chủ yếu gây khó khăn cho việc đầu tư công nghệ đại để thu hồi triệt để các thành phần có ích trong quặng.
Thực tế cho thấy, chỉ có ít cơ sở tuyển nổi, với quy mô công suất khá lớn, được đầu tư tương đối hiện đại (như đồng Sin Quyền, apatit Lào Cai…) có mức thực thu trên 90%, còn phần lớn các cơ sở tuyển rửa trọng lực mức thực thu thường chỉ đạt từ 40 - 60%. Một mặt, liên quan đến vấn đề quản lý tài nguyên: do điều kiện tự nhiên có thể có nhiều mỏ nhỏ, nhưng phải tập trung nguyên liệu cho một số ít cơ sở để chế biến sâu. Việc bố trí các cơ sở chế biến tập trung này cần phải được tính toán và cân nhắc trong các Quy hoạch khoáng sản, tránh tình trạng hiện nay, địa phương nào cũng yêu cầu phải tổ chức chế biến sâu ở địa phương mình thì mới đồng ý cho khai thác. Đó là quan điểm duy ý chí và thực tế, nhiều khi các nhà làm mỏ vẫn phải chấp nhận yêu cầu này để được khai thác.
Một mặt khác, vấn đề là phải lựa chọn sao cho được sơ đồ công nghệ và “gam” thiết bị chế biến khoáng sản với quy mô thích hợp (không phải quy mô lớn) nhưng có công nghệ hiện đại, có thể thu hồi được tối đa thành phần có ích trong quặng. Hình thành các sơ đồ công nghệ “mẫu” đối với một số loại khoáng sản phổ biến của nước ta; nghiên cứu, nhập khẩu hoặc chế tạo các “gam” thiết bị phục vụ cho công nghệ “mẫu” để có thể áp dụng một cách rộng rãi trong thực tiễn. Bài học về chế biến quặng sa khoáng titan ven biển là một ví dụ điển hình về vấn đề này.
Trong những năm 1990, công nghệ tuyển quặng sa khoáng titan ven biển là các máng thu dòng thủ công với năng suất và thực thu rất thấp. Chỉ từ sau năm 1996, khi Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam thử nghiệm áp dụng và nhập khẩu công nghệ tuyển vít đứng Trung Quốc với vật liệu là nhựa PVC thay cho composit như của Australia thì công nghệ tuyển thô sa khoáng titan ven biển đã có sự tiến bộ vượt bậc. Một loại các cơ sở của Nhà nước và tư nhân đã áp dụng công nghệ này vào sản xuất, tạo nên hiệu ứng liên hoàn. Đến nay, có thể nói rằng, thông qua nhập khẩu ban đầu, người Việt Nam đã phát triển được công nghệ tuyển sa khoáng titan ven biển phù hợp của riêng mình với các ưu điểm không thua kém nhiều so với công nghệ của nước ngoài.
b. Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ của các cơ sở khai thác, chế biến đang hoạt động
Đối với các cơ sở khai thác chế biến đang hoạt động (đáng tiếc là do cạn kiệt tài nguyên nên số này đang ngày một ít dần), với công nghệ và thiết bị được đầu tư từ cách đây mấy chục năm thỉ vẫn còn nhiều vấn đề để nghiên cứu hoàn thiện theo hướng: nâng cao thực thụ và thu hồi tối đa các thành phần có ích trong quặng, giảm lượng chất thải độc hại ra môi trường…
Trong những năm vừa qua, chỉ bằng việc thay đổi một số loại thuốc tuyển nối, một số cơ sở tuyển quặng kẽm, chì, apatit… đã cải thiện đáng kể các chỉ tiêu công nghệ tuyển. Với điều kiện hội nhập quốc tế và tiến bộ khoa học công nghệ hiện nay, chắc chắn việc hoàn thiện công nghệ, thiết bị chế biến của các cơ sở hiện có sẽ thu được những kết quả khả quan. Vấn đề còn lại chỉ là các chủ đầu tư có thật sự quan tâm để giải quyết hay không.
c. Nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng các công nghệ thích hợp để chế biến sâu các khoáng sản, sản xuất các sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao hơn, phù hợp với tài nguyên khoáng sản Việt Nam
Trong một thời gian dài, do hoàn cảnh chiến tranh và các lý do khách quan, chủ quan khác nhau mà chúng ta mới chỉ khai thác và tiêu thụ các sản phẩm thô. Phần lớn các sản phẩm khoáng sản mới chỉ ở dạng sơ chế. Trong số các kim loại màu, đến nay chính thức chúng ta mới sản xuất được 04 loại sản phẩm là kim loại: antoimon, thiếc, kẽm, đồng (nếu kể thêm cả chì thô thì có thể tính là 05 loại).
Hoàn cảnh hiện nay không cho phép chúng ta tiếp tục khai thác và tiêu thụ sản phẩm thô lâu hơn nữa. Cần phải nghiên cứu, lựa chọn công nghệ để chế biến sâu khoáng sản với giá trị gia tăng cao hơn. Tất nhiên, lựa chọn sản phẩm nào (chế biến sâu đến đâu) là cả một bài toán không dễ giải.
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ theo hướng là: Ngoài quặng đồng và kẽm vừa được đầu tư chế biến sản phẩm kim loại thành công trong năm 2007 - 2008, các khoáng sản khác cũng đang được nghiên cứu để chế biến sâu như chế biến quặng crômit đến sản phẩm ferrocrom; quặng titan đến pigment và các sản phẩm khác; quặng bauxit đến sản phẩm alumin, hyđroxyt nhôm và nhôm kim loại…
d. Nghiên cứu khả năng chế biến lại quặng thải và phế thải để sử dụng trong các ngành kinh tế quốc dân
Một thời gian dài trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp và sau đó, do chạy theo sản lượng kế hoạch và lợi nhuận trước mắt mà chúng ta lãng phí rất lớn tài nguyên khoáng sản. Một trữ lượng không nhỏ khoáng sản các loại bị thải cùng đất bóc trong quá trình khai thác hay quặng đuôi trong quá trình chế biến. Việc nghiên cứu xử lý lại các bãi thải sẽ góp phần kéo dài tuổi thọ của các mỏ, thu hồi thêm tài nguyên.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, xử lý đuôi thải của các quá trình chế biến còn góp phần giảm thiểu lượng thải ra môi trường, làm tăng hiệu quả và giá trị của các khoáng sản được khai thác.
Điều kiện hiện nay (cả thị trường, công nghệ, nguồn vốn…) cho phép chúng ta đặt vấn đề nghiên cứu để xử lý chế biến bùn đỏ trong quá trình sản xuất alumin thành các sản phẩm có ích phục vụ kinh tế quốc dân; nghiên cứu xử lý lại các bãi thải quặng thiếc ở Tĩnh Túc, Sơn Dương…
2. Nâng cao nhận thức và trình độ khoa học công nghệ chế biến khoáng sản chung trong xã hội và cộng đồng dân cư
Hiện nay, việc khai thác khoáng sản không còn chỉ giới hạn trong số các doanh nghiệp mỏ mà bất kỳ đâu có mỏ khoáng sản đều xuất hiện tình trạng người dân đào bới, khai thác trái phép. Việc khai thác quy mô nhỏ một cách tràn lan, thiếu khoa học đã gây nên những hậu quả vô cùng to lớn về mặt môi trường sinh thái. Trong khi Nhà nước chưa có biện pháp hữu hiệu để cấm triệt để việc đào bới khai thác tự do thì cần phải giáo dục nâng cao nhận thức và trình độ khoa học côngnghệ chế biến khoáng sản cho người dân, để giúp họ có thể thu hồi tốt hơn tài nguyên khoáng sản, giảm thiểu tác động có hại cho môi trường thông qua các hình thức:
- Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học công nghệ phổ thông về khoáng sản và chế biến khoáng sản trên các phương tiện thông tin đại chúng; biên soạn, phát hành các tài liệu phổ biến kiến thức phổ thông…;
- Tổ chức để các Hội nghề nghiệp (Hội KHCN Mỏ, Hội Tuyển khoáng….) trình diễn các mô hình khai thác, chế biến một số loại khoáng sản hiện nay đang bùng nổ khai thác trái phép.
3. Trong số các chính sách để phát triển bền vững ngành mỏ Việt Nam, theo chúng tôi quan trọng nhất là chính sách về giao mỏ
Như đã nêu ở trên, tài nguyên khoáng sản nước ta vốn đã ít trữ lượng nhưng lại phân bố không tập trung. Nếu giao mỏ theo cách thông thường, tức là mỗi mỏ giao cho một doanh nghiệp quản lý, khai thác sẽ dần đến không hiệu quả nếu đầu tư hiện đại, thu hồi triệt để tài nguyên, bảo đảm được môi trường. Việc đầu tư công nghệ tiên tiến, thu hồi triệt để tài nguyên khoáng sản, xử lý và đảm bảo tốt các tiêu chí về môi trường thường đòi hỏi lượng vốn rất lớn cùng với các năng lực về con người, tổ chức cụ thể… Với việc phân tán giao mỏ cho nhiều chủ thể theo hiểu “trăm hoa đua nở” sẽ chỉ dẫn đến những hệ luỵ tiêu cực mà thời gian qua chúng ta đã chứng kiến. Để có thể đầu tư, xử lý đồng bộ các yêu cầu đặt ra khi khai thác, chế biến khoáng sản thì giải pháp tối ưu là quy việc cấp mỏ về cho một đầu mối. Nhiều người dễ vội phản đối vì cho là như thế sẽ tạo nên sự độc quyền.
Hoàn toàn không phải như vậy! Đầu mối ở đây chỉ có nghĩa là chọn lấy một doanh nghiệp có đầy đủ năng lực nhất về công nghệ, con người, nguồn vốn… đứng ra chịu trách nhiệm chính trước Nhà nước để đảm bảo khai thác chế biến có hiệu quả, thu hồi triệt để tài nguyên, bảo vệ và phục hồi môi trường sau khai thác, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với địa phương, Nhà nước… Doanh nghiệp này không phải là doanh nghiệp duy nhất được quyền khai thác, mà chỉ là doanh nghiệp đứng đầu, tập hợp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần thuộc các địa phương khác nhau, trong nước hoặc ngoài nước nhằm thu hút, động viên mọi nguồn lực trong xã hội để có thể phát huy và khai thác một cách tối ưu các nguồn lực đó. Bằng chính hình thức đó mới có thể giải quyết một cách hài hoà các lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp, của địa phương, của Trung ương… góp phần làm giảm thiểu các xung đột về lợi ích. Ngược lại, nếu cứ mạnh ai nấy làm thì các nguồn lực trái dấu sẽ triệt tiêu lẫn nhau và kết quả như chúng ta đã từng thấy.
Mô hình Công ty cổ phần khoáng sản giữa các đơn vị thuộc tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam với các thành phần kinh tế khác ở các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng, Thanh Hoá… vừa qua đã bước đầu phát huy tác dụng, cho thấy hướng đi đó là đúng đắn. Hoặc như việc Nhà nước tập trung giao các khoáng sản than, bauxit về Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tổ chức quản lý, khai thác chế biến là những ví dụ rõ ràng cho thấy tính hiệu quả của chính sách trên. Chúng ta thử hình dung: nếu bây giờ vẫn còn nạn than “thổ phỉ” như những năm đầu 1990 thì liệu ngành Than có thu được những thành tựu như vừa qua không? Và nếu chưa được giao cho Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tập trung thăm dò, khai thác, chế biến bauxit ở Tây Nguyên thì liệu ngành công nghiệp Nhôm của Việt Nam có thể tiến nhanh như chúng ta đã thấy được hay không?
Mong rằng với những gì thực hiện đã chứng minh, Nhà nước sẽ cụ thể hoá các chủ trương trên thành những quy định pháp luật.
4. Cùng với thời gian, nhận thức của chúng ta về “phát triển bền vững” cũng ngày càng đầy đủ hơn, toàn diện hơn
Rõ ràng, bây giờ phát triển không chỉ còn là những con số tăng trưởng về sản lượng. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng phát triển bền vững công nghiệp mỏ bên cạnh việc phát triển các cơ sở khai thác, chế biến đồng thời cần phải phát triển hài hoà với môi trường, với địa phương và cộng đồng, với đối tác, với bạn hàng và với các thành viên trong Tập đoàn, trên cơ sở liên kết các nguồn lực mà trung tâm là nguồn lực con người. Nội dung chủ yếu của kinh doanh phát triển bền vững là: phát triển kinh doanh và tăng trưởng kinh tế; bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội. Bằng hành động cụ thể, Tập đoàn và các đơn vị thành viên đã triển khai tiến hành nhiều hoạt động tại Quảng Ninh, Lào Cai… Đặc biệt, Tập đoàn đã ký với tỉnh Đăk Nông thoả thuận về một chương trình hành động toàn diện nhằm phát triển bền vững công nghiệp nhôm trên địa bàn. Thoả thuận là cơ sở pháp lý để các bên tiến hành và phối hợp các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường. Một thoả thuận tương tự cũng sẽ được ký kết với tỉnh Lâm Đồng.
Bằng trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng, bên cạnh nhiệm vụ phát triển sản xuất kinh doanh, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đang tích cực triển khai các chương trình hoạt động phát triển văn hoá - xã hội, bảo vệ môi trường ở những địa phương có mỏ. Chúng ta tin rằng, những bước đi đó của Tập đoàn là đúng hướng, không chỉ phù hợp với chủ trường, đường lối của Nhà nước, mà còn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của số đông người lao động và nhân dân địa phương. Đó cũng là cách tiếp cận vấn đề phát triển bền vững ngành mỏ Việt Nam hiện thực và nhân văn nhất.








