Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 27/05/2008 15:31 (GMT+7)

"Chỉ có khoa học và công nghệ mới đưa Việt Nam bứt phá"

- Năm nay sẽ tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế xã hội. Thứ trưởng đánh giá thế nào về vai trò của khoa học và công nghệ (KH&CN) trong thời gian qua?

- Nếu hỏi cụ thể KH&CN đã đóng góp bao nhiêu, thì các con số đưa ra đều là định tính. Thứ nhất, theo tôi, đó là vì KH&CN có độ trễ nhất định, không thể thấy hiệu quả ngay. Thứ hai, đầu tư cho lĩnh vực này tiềm ẩn sự “mạo hiểm”. Ngay cả tại các nước phát triển, tỷ lệ nghiên cứu thành công có thể áp dụng vào đời sống và sản xuất cũng chỉ khoảng trên dưới 20%. Nhiều người nghĩ rằng mọi nghiên cứu đều phải thành công, phải có kết quả, đó là suy nghĩ sai lầm. Thứ ba, có nhiều sản phẩm khoa học mang lại hiệu quả lớn nhưng gián tiếp hoặc vô hình. Ví dụ, nghiên cứu văc xin, chi phí vài trăm nghìn USD có thể cứu mạng cả triệu em nhỏ… mà sinh mạng con người thì không thể tính bằng tiền được.

Một loại cũng rất khó tính hiệu quả thành tiền là nghiên cứu cơ bản. Có ý kiến cho rằng ta nên sử dụng nghiên cứu cơ bản của nước ngoài, và chỉ nên tập trung nghiên cứu ứng dụng thôi. Nhưng theo tôi, ta vẫn phải chủ động trong lĩnh vực này, vì không phải nghiên cứu cơ bản nào của nước ngoài cũng có thể chuyển giao cho ta và có thể áp dụng được vào hoàn cảnh VN, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, bệnh dịch…

Trong 20 năm đổi mới, nếu không có KH&CN, chúng ta không thể có những thành tựu như vậy. Nhờ việc làm chủ công nghệ tiên tiến mà ngành đóng tàu nước ta đang có cơ hội xếp vào top 10 nước trên thế giới. Nhờ có các giống mới, quy trình canh tác mới... đã góp phần đưa nước ta thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Nhưng khách quan mà nói, KH&CN thời gian qua vẫn chưa xứng với vị trí là quốc sách hàng đầu, là động lực của nền kinh tế. Đội ngũ cán bộ đông nhưng chất lượng không cao, các công bố quốc tế của VN rất thấp, số sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được cấp bằng bảo hộ ít ỏi, số các công trình có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế xã hội cũng rất ít.

- Điều gì khiến cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam chưa thực sự đóng vai trò "then chốt"?

- Trước hết, đó là do đầu tư cho lĩnh vực này của nhà nước còn thấp (2% tổng chi ngân sách, khoảng 0,5 - 0,6% GDP), tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp còn ít, chưa đến 0,1% GDP. Bởi hầu hết doanh nghiệp đều là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, ban đầu phải lo tồn tại trong thương trường, chưa có điều kiện đầu tư cho KH&CN. Các doanh nghiệp lớn chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước thì đầu tư cho lĩnh vực này rất thấp, thậm chí thấp hơn tư nhân. Hãy so sánh: đầu tư cho KH&CN trên đầu người Việt Nam năm 2007 là khoảng 5 USD, ở Hàn Quốc là khoảng 1000 USD, còn ở Trung Quốc năm 2004 là khoảng 20 USD. Tỷ lệ đầu tư của Trung Quốc cho KH&CN từ ngân sách Nhà nước so với khu vực ngoài Nhà nước khoảng 1 : 3, còn VN thì ngược lại khoảng 5 : 1.

Thứ hai, sự quan tâm của xã hội đối với lĩnh vực này thấp. Nếu như ngành Giáo dục (cũng là lĩnh vực quốc sách hàng đầu) chỉ có một động thái nhỏ như thay đổi giá sách giáo khoa cũng đã làm xôn xao dư luận, thì ngành KH&CN muốn đổi mới phải qua quá trình dài, nhưng lại ít nhận được phản hồi của công luận.

Sau cùng, chúng ta chưa có mạng lưới quản lý KH&CN đến cơ sở. Nếu ngành Giáo dục có chân rễ đến tận thôn bản, thì KH&CN mới chỉ có đơn vị quản lý đến cấp tỉnh. Trong khi đó, kết quả nghiên cứu phải có cơ sở ứng dụng, nhất là doanh nghiệp. Nếu mạng lưới quản lý không với tới cơ sở, doanh nghiệp, thì dù ta có các viện nghiên cứu rất lớn, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu cũng không thành công.

- Vậy thời gian tới, khoa học và công nghệ ở nước ta sẽ phải được đặt ở vị trí nào?

- Trong tương lai, KH&CN vẫn phải là động lực phát triển kinh tế. Vì ngay các nước mới phát triển như Hàn Quốc hay Đài Loan, đến thời điểm này vẫn phải giữ tôn chỉ đó. Chỉ có điều, chúng ta phải làm thế nào để biến nó thành hiện thực, chứ không chỉ trên giấy tờ, nghị quyết.

Phải hiểu rằng sự tăng trưởng của những năm đổi mới chủ yếu là do chúng ta tự “cởi trói” mình. Nhưng đến nay, có thể nói giai đoạn tăng trưởng nhờ tháo gỡ cơ chế đã qua rồi, những gì cần tháo gỡ chúng ta đã làm rồi. Nông dân đã được làm chủ ruộng đất, công nhân đã được làm chủ trong doanh nghiệp của họ, kể cả các thành phần kinh tế khác, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài, chúng ta đã huy động gần như tối đa. Về mặt cơ chế chính sách, hầu như không còn rào cản, đặc biệt kể từ khi gia nhập WTO, hội nhập quốc tế ASEM, APEC…

Từ đây trở đi, nếu không phát triển khoa học và công nghệ, chắc chắn sự tăng trưởng kinh tế sẽ bị hạn chế, thậm chí chậm lại. Đảng ta đã xác định mục tiêu đến 2020, về cơ bản VN trở thành một nước công nghiệp. Đây là mục tiêu khó khăn nếu chúng ta không có những quyết sách lớn về KH&CN. Bài học của các nước trong khu vực và trên thế giới đều như vậy, bởi giá trị gia tăng của khoa học và công nghệ chiếm tỷ trọng rất lớn trong nhịp độ phát triển.

- Thứ trưởng có thể nói cụ thể hơn về bài học từ các nước bạn trong vấn đề này?

- Ví dụ khu công nghệ cao Tân Trúc (Đài Loan) chỉ có khoảng 100.000 người làm việc, sản xuất 2 sản phẩm chính là màn hình tinh thể lỏng và chíp máy tính. Hằng năm, giá trị hàng hóa mà họ tạo ra lên đến 46 tỷ USD (số liệu năm 2004). Bình quân một người tạo ra sản phẩm có giá trị nửa triệu USD. Trong khi đó tại Việt Nam năm 2007, một người ở độ tuổi lao động đóng góp GDP trung bình là 1.500 USD. So sánh như vậy để thấy là người lao động trong lĩnh vực công nghệ cao có năng suất lớn gấp nhiều lần so với lao động thông thường.

Chính vì thế Hàn Quốc, hay Đài Loan dù gần như không có tài nguyên hay đất nông nghiệp, nhưng họ vẫn dẫn đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực, Hàn Quốc có thể đứng vào top 10 của thế giới. Ngay Trung Quốc cũng đã xây dựng một chủ thuyết mới : “Khoa học phát triển quan” - phát triển đất nước dựa trên thế giới quan khoa học. Và chính vì vậy, Trung Quốc hiện có mọi thành tựu khoa học mà thế giới có, như tên lửa, vũ khí hạt nhân, tàu vũ trụ có người lái, máy bay chiến đấu, máy bay chở khách, tàu sân bay…

Việt Nam cũng nên đi theo con đường của các nước mới công nghiệp hóa.

- Việt Nam cần phải làm gì để KH&CN thực sự trở thành động lực kinh tế?

- Tôi chia làm 3 nhóm giải pháp cụ thể. Trước hết là nhóm giải pháp về cơ chế, có hai vấn đề.

1- Phải triệt để đổi mới trong cách quản lý. Chính phủ đã giao cho các tổ chức KH&CN quyền tự chủ rất cao, cả về tài chính, tổ chức, biên chế. Điều này đã được quy định rõ trong Nghị định 115 và Nghị định 80, được ví như “khoán 10” trong khoa học. Vấn đề là các cấp quản lý phải hiểu rõ và thực hiện tốt chủ trương này.

2- Phải sớm hình thành một hệ thống doanh nghiệp KH&CN. Đây là một loại hình doanh nghiệp mới, do các nhà khoa học lập ra, ứng dụng kết quả nghiên cứu để làm ra sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Đây được coi là con đường ngắn nhất để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Một ví dụ điển hình là Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp. Năm 2002, viện này được thí điểm hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Viện là công ty mẹ, trong viện có nhiều công ty con. Trong vòng 5 năm qua, doanh số của Viện đã tăng từ một vài chục tỷ lên đến gần 1.000 tỷ. Một ví dụ khác là Công ty Sơn tổng hợp Hải phòng, trong 5 năm qua đã tăng doanh số lên hơn 10 lần, đạt gần 400 tỷ đồng năm 2007.

Thứ hai, phải đổi mới về cơ chế tài chính: cho phép các nhà khoa học có quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng kinh phí của nhà nước. Không nên quyết toán theo năm tài chính mà theo thời gian nghiên cứu. Cho phép họ được linh hoạt chuyển đổi thuận lợi nội dung nghiên cứu, tạo điều kiện cho họ đi trao đổi khoa học ở nước ngoài cũng như mời chuyên gia nước ngoài vào hợp tác nghiên cứu trong nước.

Thứ ba, Nhà nước nên xác định những đề tài có ảnh hưởng lớn đến đất nước, coi đó như nhiệm vụ KH&CN của quốc gia, hình thành những tập thể nghiên cứu mạnh, giao cho họ quyền tự chủ cao để họ làm được việc đó. Với cơ chế manh mún hiện nay (có khi cùng một vấn đề, viện A nghiên cứu, viện B cũng nghiên cứu, bộ C cũng có đề tài tương tự…), chúng ta không thể giải quyết được những vấn đề mang tính chiến lược, tầm quốc gia.

Xin minh họa bằng một kinh nghiệm thời kháng chiến chống Mỹ. Khi Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng bằng thủy lôi, Nhà nước giao cho giáo sư Vũ Đình Cự lập nhóm GK1 với cơ chế tự chủ cao, nghiên cứu giải pháp phá thủy lôi. Trong thời gian rất ngắn nhóm GK1 đã thành công, sau này công trình được Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ngày nay, ta cũng có thể áp dụng tương tự, bằng cách giao cho một nhà khoa học chủ trì một dự án lớn, được giao một khoản kinh phí đủ lớn, được quyền chủ động mời và trả lương cao cho các nhà khoa học khác cùng làm việc, chủ động mua sắm thiết bị, tham dự các hội nghị quốc tế, mời chuyên gia nước ngoài hợp tác… Nhà nước chỉ quan tâm đến sản phẩm của dự án. Theo kinh nghiệm của các nước, có như thế mới có thể triển khai thành công các dự án lớn.

Nguồn: vnexpress.net   26/5/2008

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.