Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/03/2009 23:50 (GMT+7)

Chế độ nhà Lang tại các Mường Hoà Bình

Huyện Lạc Thuỷ có 3 tổng: tổng Yên Lạc, tổng Yên Thái và tổng Yên Bình.

Phủ Lạc Sơn, có 4 tổng là: tổng Lạc Thiện, tổng Lạc Nghiệp, tổng Lạc Đạo và tổng Lạc Thành.

Phủ Lương Sơn có 6 tổng là: tổng Kim Bôi, tổng Gia Cát, tổng Hoà Lạc, tổng Phương Hanh, tổng Ly Hương, tổng Thanh Dương.

Phủ Vạn Yên có 7 tổng là: tổng Tinh Nhuệ, tổng Vu Võ, tổng Cao Phong, tổng Mỹ Khê, tổng Đối Sơn, tổng Cầm Đài, tổng Yên Lũng.

Phủ Chợ Bờ có 5 châu là:Châu Đà Bắc, châu Mai Châu, châu Yên Châu, châu Phù Yên Châu.

Sau nhiều năm thay đổi, đến năm 1892 tỉnh Mường còn 5 châu là: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Đà Bắc, Mai Châu, Lạc Sơn.

Ngày 23 tháng 6 năm 1892, toàn quyền Đông Dương ký nghị định tổ chức bộ máy chính quyền ở Hoà bình. Theo nghị định này, công việc toàn tỉnh do một hội đồng quan lang điều hành, gồm có 12 quan lang: sáu người do các lang cử ra, sáu người do công sứ Hoà Bình chỉ định.

Hội đồng mười hai quan lang do viên công sứ Pháp làm chủ tịch. Hội đồng cử ra một chánh quan lang, một phó quan lang và một viên đề đốc. Chánh quan lang trông nom các công việc chung của tỉnh, phó quan lang có nhiệm vụ giúp việc chánh quan lang. Còn viên đề đốc thì giữ việc chỉ huy lính dõng trong tỉnh.

Con cả thay cha làm lang cum một Mường, nếu có thế lực còn làm được Tổng xã, Tri châu, Tuần phủ, hoặc được triều đình phong kiến phong đến chức Phiên thần, là một chức thay nhau sau 9 tháng phải về triều đình chầu vua, tiến cống và nghe vua hiểu dụ: Mông sắc, phong cho làm Quan chưởng, Quan lang, Thổ tù, Lang đạo, Phụ đạo. Như lang Vĩnh Đồng (huyện Kim Bôi ngày nay) được vua Lê Đại Hành sắc phong cho: Một đời làm vua, muôn đời làm chúa đất Mường vào năm Thiên Thuỵ thứ 2 (bản sắc phong ấy làm bằng một lá đồng nhỏ, có khắc hàng chữ nho, hiện nay chi trưởng họ Đinh vẫn còn giữ được (theo Quan Lang sử lượccủa Đồ Bàn viết trên báo Nam Phongsố 100, tháng 10 năm 1925).

Đời vua Lý Nhân Tông phong lang xứ Mường chức Chỉ huy sứ, Kinh lược sứ, Phòng ngự sứ và Phò mã Quận công. Khi chết còn được truy tặng tước Đại vương Vĩnh Đồng, Đại vương Cao Phong. Ông Quách Minh, Quận công ở làng Hướng Nghĩa, ông Chưởng Hải, chức Quận công ở làng Quy Hậu và các tước Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.

Ông Thổ tù Ngọc Lân được Lê Duy Mật (Hậu Lê) phong cho chức Chỉ huy sứ Phù quốc Quận công, hay quan Phòng ngự sứ Thồ tù Mường Vang; quan Tôn Lĩnh Hầu Thổ tù châu Đà Bắc, quan Tiền trung Bá thự hàm Quận công Thổ tù Mẫn Đức, quan Phòng ngự sứ Thổ tù làng Hướng Nghĩa… Đến triều Nguyễn lại cho quan lang xưng là Thổ Mục và được bổ làm các chức Lanh binh, Hiệp quản, Phó cơ, Suất đội, như quan Phó lãnh binh Thạch Bi, quan Phó cơ Vĩnh Đồng. Đến thời thực dân Pháp chiếm nước ta, đặt nền bảo hộ lên khắp châu Mường tỉnh lỵ, chúng cho đổi Thổ Mục được khai xưng là Thổ Lang, Thổ Đạo. Từ năm 1888, Thành Thái lên ngôi lại cho xưng là quan lang.

Đầu tiên thực dân Pháp cho quan lang được làm Tuần phủ. Sáu Tuần phủ đầu tiên của Hoà Bình là quan lang. Bắt đầu từ năm 1930 chúng cử quan lại người Việt lên nắm chức Tuần phủ Hoà Bình. Cũng năm 1930, chúng bãi bỏ Hội đồng quan lang, rồi cử công chức người Vịêt lên nắm giữ các chức vị chủ chốt của Hoà Bình.

Thực dân Pháp cần quan lang và phải thông qua các quan lang để cai trị xứ Mường, nhưng chúng vẫn không tin các lang lắm. Cuộc khởi nghĩa do Tổng Kiệm và Đốc Bang lãnh đạo đã nổ ra vào năm 1909 vẫn luôn hiện ra trong trí nhớ của thực dân Pháp, khiến cho chúng không thực sự tin nhà lang.

Mỗi khi thấy một quan lang nào có thế lực, chúng tìm cách bổ quan lang đó đi làm Tri châu, hoặc làm công chức ở nơi khác nhằm làm cho các quan lang xa lìa quần chúng của mình. Kế “điệu hổ ly sơn” này của thực dân Pháp đã mang lại kết quả. Nhiều quan lang đã vui lòng bỏ quê hương làng xóm mình đi nhận chức Tri châu ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai trở thành quan chức của chính quyền thực dân.

Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội Mường Hoà Bình là xã hội chia ra đẳng cấp rất rõ rệt. Giai cấp thống trị cũng tức giai cấp quý tộc là lang. Trong một Mường tức một địa vực gồm có nhiều xóm, quý tộc thống trị đều là người của một dòng họ.

Ở Hoà Bình, các họ nắm quyền thống trị lâu đời là họ Đinh, họ Quách, họ Bạch, họ Hoàng, họ Hà, họ Xa, họ Cao. Trong các họ n ày thì họ Đinh và họ Quách là những họ có thế lực mạnhnhất.

Mỗi xóm hoặc chòm thường từ khoảng 2 trăm đến ba trăm nhân khẩu, từ hai hạơc ba chục làng đến hàng trăm nóc nhà. Mường là một địa vực gồm nhiều xóm có khi có đến hơn hai mươi xóm. Mường Vang có hơn hai mươi xóm và hàng nghìn nhân khẩu.

Chế độ nhà lang là tổ chức xã hội thống trị nhân dân Mường trước Cách mạng tháng Tám. Bộ máy nhà lang trước hết có những nhân vật mà ta vẫn gọi là quan trọng.

Các quan lang gồm có lang cun và lang đạo là những người thuộc dòng họ quý tộc. Lang cun là lang có uy thế lớn mà các lang đạo khác phải phục tùng. Lang cun thường cử người nhà đi làm lang đạo ở các xóm trong Mường. Trước Cách mạng tháng Tám ở Hoà Bình có bốn lang cun có thế lực nhất là:

1. Lang cun Thạch Bi tức Mường Bi

2. Lang cun ở Trung Hoàng tức Mường Vang.

3. Lang cun ở Cao Phong tức Mường Thàng.

4. Lang cun ở Vĩnh Đồng tức Mường Động.

Trong 4 lang cun nói trên thì lang cun ở Mường Bi và lang cun ở Mường Vang là nối tiếng nhất, vì có nhiều uy lực nhất.

Chức lang được truyền lại theo cha truyền con nối. Chỉ con trai trưởng mới làm lang cun, còn các con thứ làm lang đạo, được quyền cai trị các xóm nhỏ. Khi lang cun chết, nếu không có con trai, vợ lang cun có thể lên thay chồng cho đến khi không làm nổi chức vụ. Đến lúc này họ hàng nhà lang cùng với những người tín cẩn chọn một người trong họ đưa lên làm lang cun. Cũng có khi chức lang cun trao cho người rể của nhà lang. Trong trường hợp người rể lang cun được bầu lên làm lang cun, thì người đó phải bỏ họ nhà mình và lấy họ vợ.

Lang cun cũng như lang đạo có một số người giúp việc gọi là ậu, ậu cũng có ậu to ậu nhỏ. Ậu to là những người tin cẩn của lang thường làm công việc điều khiển ậu nhỏ.

Ậu to và ậu nhỏ không thuộc dòng họ nhà lang, mà là những người dân thường được lang tín nhiệm (thường gọi là ậu nhất, ậu nhì, ậu khà, ậu nhiêu, ậu cả…). Các lang tự chọn lấy các ậu giúp việc cho mình, chức vị ậu không cha truyền con nối, lang cun cũng như lang đạo có thể truất quyền các ậu bất cứ lúc nào.

Người nhận chức ậu phải làm cỗ khao dân trong xóm mình. Ậu to phải khao bằng trâu, còn ậu nhỏ phải mổ lợn mổ gà. Mỗi khi khao dân ậu to phải bỏ ra một số tiền bằng khoảng 2.000 cân thóc, còn ậu nhỏ phải mất 800 cân thóc.

Khi nhà lang có việc hiếu hay hỉ, mỗi ậu to phải góp cho nhà lang 800 kg thóc về việc hiếu, 600 kg thóc về việc hỉ, còn ậu nhỏ phải góp 500 kg thóc về việc hiếu, 400 kg về việc hỉ.

Có nhiều loại ậu, ta có thể chia làm ba loại chính sau đây:

1. Loại thứ nhất làm nhiệm vụ trị an.

2. Loại thứ hai làm nhiệm vụ quản lý ruộng đất, tài sản của toàn Mường và của nhà lang.

Bếp lửa đặt trong nhà, nơi tụ họp của gia đình người Mường. 3. Loại thứ ba làm nhiệm vụ quản lý việc bắt người đi phu, đi lính, thu tô, của biếu xén của các Mường nộp cho nhà lang.

Dưới bộ máy các ậu, còn có các loại phiên, hầu… rồi đến nhân dân lao động các Mường. Đây là những người nghèo khổ nhất, và cũng là những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất. Đó cũng là những người nuôi sống nhà lang.

Nhân dân lao động các Mường nuôi sống các gia đình nhà lang như thế nào? Ta hãy xét các điều luật lệ (11 điều) do một dòng lang họ Quách đặt ra dưới đây thì có thể hình dung được những nét cốt yếu về sự áp bức bóc lột rất hà khắc của nhà lang các Mường Hoà Bình.

Lệ 1. Hễ con trai trưởng được quản thúc nhân dân các khuê, còn các con khác nếu có lòng hiếu kính, thì cho làm phụ đạo (tức lang đạo) không được quản dân. Hễ con trai trưởng không may tuyệt tự, thì con trai thứ mới được làm thế làm con trưởng và kế lập (đời cha truyền con nối tiếp), quản coi nhân dân.

Lệ 2. Hễ hàng năm đến mùa làm ruộng, nhân dân các khuê cùng đem nhau ra cày cấy ruộng cho Đại thủ quan (tức lang cun sau này), đi hết mọi xuất, nếu ai thiếu thì bị phạt lợn một con, rượu một chum. Đến mùa lúa chín, nhân dân các khuê cùng nhau đem hết mọi xuất ra thu hoạch, đem về kho cho xong hoàn hảo, ai thiếu cũng bị phạt như trên.

Lệ 3. Đại thủ quan có việc cưới vợ, Chấu hoá (một chức vụ trong bộ máy ậu của chế độ nhà lang Hoà Bình) phải xuất tiền nộp lễ cưới. Phụ đạo các khuê phải chịu việc nuôi tiếp tân khách và phải nghe theo Đại thủ quan chia bổ nhiều hay ít, y theo lời dạy, nếu ai tự cưỡng không theo thì tước đoạt mất phần.

Lệ 4. Phụ đạo các khuê, hễ nhà có việc tang lớn và việc cầu đảo (việc tang bố mẹ và khi làm mo cúng ma), hoặc việc gì có mổ trâu, bò, dê, lợn thì phải để ra nộp phần biếu cho Đại thủ quan một miếng vai liền xương bả (3 xương) và chân giò, lại một mâm cỗ đồ ăn chia và phẩm vật bày trên chiếu ngồi.

Lệ 5. Các nhà nhân dân ở các khuê hễ có việc tang, lớn cầu đảo, tế lễ mổ trâu, bò, dê, lợn phải kính biếu Đại thủ quan một miếng vai liền xương bả và chân giò với một mâm cỗ chín và các phẩm vật.

Lệ 6. Đại thủ quan có việc làm nhà thì nhân dân các khuê phải tận xuất mọi người ra làm việc: đẵn gỗ, tre, nứa, cắt cỏ gianh để dùng đủ việc làm nhà, xong rồi lại làm rào gỗ, phên thưa, nghi môn kín; khi việc làm nhà hoàn thành, các khuê phải chịu lần lượt phục dịch canh giữ mỗi phiên 2 người, cả ngày và đêm, ai thiếu thì phạt.

Lệ 7. Hễ Đại thủ quan khi có ngày giỗ chạp thì nhân dân các khuê phải dự bị trước ngày, hết thảy mọi người phải đi săn, đánh cá, ai thiếu thì phạt về tội bất kính. Về phần Phụ đạo các khuê, mỗi đạo phải lợn một con, rượu một chum và phải tề tựu đến lễ bái, ai thiếu thì phạt về tội bất kính và tước đoạt mất dân.

Lệ 8. Đại thủ quan mỗi năm thu lợn, gà của nhân dân trong bản xã, mỗi nhà phải nộp lợn một con, gà hai con, nếu không có gà thì thế một đôi vịt; và phải nộp lá dâu nuôi tằm, mỗi nhà nộp một bồ cao một thước năm tấc, khoát một thước ba tấc.

Lệ 9. Nhân dân các khuê bản xã, mỗi nhà mỗi năm phải nộp bông năm cân, tơ sống năm nén, gai một nén, quả thầu dầu 15 bát, rượu hàng hai vò.

Lệ 10. Đại thủ quan có việc tang lớn báo hiếu, nhân dân các khuê bản xã, mỗi nhà phải nộp trâu một con, lụa mười thước, vải trắng hai mươi thước, rượu một chum để tiếp đãi các bậc tân khác… Nhà nào cũng phải cắt tóc để tang y như tang bố mẹ đẻ, và xây nhà mồ, mộ đá, chung quanh rào gỗ, đầy đủ các hạng.

Lệ 11. Nhân dân các khuê, ai có phạm diều gì phải tạ lễ. Nếu bỏ thiếu thì bắt người làm nô tỳ, hoặc nhà ấy không có con trai thì cho thay thế bằng trâu một con, hoặc không có trâu thì bắt con gái làm nô tỳ. Nếu không có người con gái thì tịch thu ruộng nương, của cải và nhà cửa.

Xét như trên đã thấy mỗi năm mỗi gia đình nhân dân lao động Mường phải đóng góp cho Lang cun, Lang đạo như sau:

- Cày cấy 70 ngày

- Đi phiên hầu lang 90 ngày.

- Lao động tạp dịch 9 ngày

Cộng: 169 ngày.

Hiện vật:

- Thóc 150 kg

- Các thức khác qui thành thóc 32 kg

Cộng: 182 kg.

Như thế là trong một năm, một gia đình nhân dân lao động Mường Hoà Bình phải làm không công cho lang cun, lang đạo mất 169 ngày. Trong 196 ngày còn lại, gia đình đó phải làm sao cho đủ 182 kg thóc để nộp cho lang cun, lang đạo, và có đủ gạo, vải để nuôi sống gia đình.

Lang không là ma thì cũng là chúa đất của một vùng Mường, có đầy đủ quyền uy to lớn không thể kể hết được. Nó được thể hiện qua cách ứng xử, là tất cả con cá dưới nước, con ong, con chim bay trên trời, đến cả vợ dân… Nếu trong cuộc gặp bất ngờ, lang thấy thích mắt, thì cũng sẽ là của lang.

Trong Mường, tất cả quyền sinh quyền sát đều ở trong tay lang, nên lang tha hồ đè đầu cưỡi cổ dân đen; bởi trong thực tế, thì linh hồn đến thể xác, cũng như ruộng đất của người dân trong Mường, cùng muông thú, cây rừng, sông suối nghĩa là thượng ngọn cây, hạ ngọn cỏ đều là của lang hết thảy. Với truyền thống cha truyền con nối, lang anh được thay cha ăn lang cả vùng đất đai có cư dân do lang quản lý. Còn dân ở đâu cũng muốn có lang cai quản, bởi như vậy sẽ không bị người khác cướp bóc bắt nạt. Quan niệm này được thể hiện trong câu: “Khôn có lang, sáng có đạo”.

Từ xa xưa, lang chỉ phân việc cho các ậu trông coi cắt đặt công việc cho nhà lang. Nhưng đến năm Bảo Đại thứ nhất (năm 1925),lang còn đặt thêm các chức sắc như: âu nhì, các giúp, giúp việc cho ông hương, cai xã giúp việc quan, còn ậu cả, ậu khà, ậu nhất, ậu nhiêu cai nhưng làm việc Mường. Số cai ba, cai tiểu cai trong đứng đầu đội lính lang gọi là Phiến nhưng (là những thanh niên trẻ khoẻ, cường tráng, tin cậy, trung thành, được tuyển chọn kỹ lưỡng, được trang bị súng hoả mai, súng kíp, mặc áp nẹp 2 phân, màu vàng đội nón chỏm cũng có tua vàng để phân biệt với lính khố xanh, khố đỏ của thực dân Pháp sử dụng.

Lang dùng lực lượng này làm hàng rào danh dự trong khi đón quan trên, hoặc tế lễ, rước sách trong các ngày lễ hội trọng thể, còn ngày thường thì lực lượng này làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ lang khi đi kinh lý các Mường, chơi bời hay họp hành với quan trên, cho tăng thanh thế nhà lang.

Chú thích

1. Làng Kỳ Ngãi, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá còn có nhiều họ Vũ khác nhau, vì vậy họ Vũ này ở làng Kỳ Ngãi có ghi chép thêm chữ dòng Nhân Chínhđể phân biệt.

Bếp lửa đặt trong nhà, nơi tụ họp của gia đình người Mường.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.