Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 14/10/2010 20:38 (GMT+7)

Chất lượng nước sông hồ TP. Hà Nội

Hiện nay sông, hồ trên địa bàn TP. Hà Nội tiếp nhận hàng ngày khoảng hàng triệu m 3nước thải công nghiệp, nước thải đô thị và nước thải từ đồng ruộng, các khu vực nuôi trồng thủy sản. Lượng nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP. Hà Nội từ 440.934 m 3/ngày đêm vào năm 2020. Như vậy trong tương lai nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông, hồ ở TP. Hà Nội không những không giảm mà còn gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sinh hoạt. Đây là cảnh báo khẩn cấp cho công tác bảo vệ và phục hồi CLN ở TP. Hà Nội phục vụ cấp nước an toàn cho sinh hoạt, thủy sản, du lịch và nông nghiệp.

Bằng phương pháp đo đạc, phân tích liên tục CLN theo chiều dài các dòng sông, hồ kết hợp số liệu phân tích vào 2 mùa trong năm 2008 – 2009 tại 50 điểm đại diện Đề tài đã xác định rõ ràng sự phân bố các vùng nước bị axit hóa, bị ô nhiễm do các chất hữu cơ, dinh dưỡng, dầu mỡ và vi sinh. Các bản đồ (số hóa) về diễn biến các thành phần ô nhiễm này được xây dựng. Đường cong biến đổi oxy hòa tan (DO, đặc trưng cho ô nhiễm hữu cơ) và các chất ô nhiễm khác dọc sông Hồng, sông Đuống, sông Nhuệ, sông Cầu và sông Cà Lồ, hồ Tây đã được xác lập. Đây là các tài liệu có giá trị cao phục vụ cho việc đánh giá diễn biến CLN hiện nay và trong tương lai, phục vụ quản lý môi trường, cảnh báo ô nhiễm và cung cấp thông tin cho việc sử dụng nước.

Bằng việc lựa chọn 10 thông số đặc trưng ( DO, BOD, TSS, T.Coliform, pH, tổng N, độ đục, dầu mỡ, Fe, tổng P) vận dụng và cải tiến các mô hình WQI (của Hoa Kỳ và Ấn Độ), Đề tài đã lập mô hình WQI phù hợp với đặc điểm môi trường nước vùng TP. Hà Nội (ký hiệu WQI A– HN1, WQI M ­­– HN1, WQI – HN2). Trên cơ sở số liệu phân tích CLN của đề tài, giá trị WQI của từng điểm trong 50 điểm khảo sát đại diện trên các sông, hồ chính đã được tính toán. Dựa theo thang điểm của Hệ thống WQI – HN, CLN của từng điểm đã được phân loại. Kết quả nghiên cứu theo mô hình WQI – HN cho thấy không có điểm nào ở TP. Hà Nội đạt loại I (rất tốt – ô nhiễm nhẹ), hầu hết các điểm trên sông Hồng đạt loại II (tốt – ô nhiễm nhẹ), một số điểm trên sông Hồng chảy qua khu vực nội thành Hà Nội đạt loại III, các điểm trên sông Đuống và sông Cầu đạt mức II vào mùa mưa và giảm xuống loại III vào mùa khô, đối với sông Cà Lò các điểm chỉ đạt loại III (trung bình – ô nhiễm trung bình). Sông Nhuệ phần thượng lưu chất lượng nước còn khá tốt và đạt loại II, tuy nhiên khi đi qua địa phận xã Cổ Nhuế chất lượng nước đã giảm và chỉ đạt mức III-IV (kém – ô nhiễm nặng), ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng từ khu vực quận Hà Đông trở về hạ lưu, chất lượng nước đạt loại V (rất kém – ô nhiễm rất nặng). Các sông nội thành đều bị ô nhiễm nặng và đạt loại IV và V (rất kém – ô nhiễm rất nặng), đối với các hồ không đạt loại I và II, chất lượng nước ổn định nhất là hồ Tây đạt loại III, các hồ bị ô nhiễm nặng như khu vực ven hồ Yên Sở, hồ Ba Mẫu, hồ Bảy Mẫu đều chỉ đạt mức IV – V. Kết quả phân loại CLN theo WQI được tính bằng phần mềm có tính khách quan, do vậy có thể làm cơ sở cho công tác quan trắc môi trường nước sử dụng nước và cải tạo ô nhiễm trong các năm tới.

Đây là lần đầu tiên các sông, hồ ở khu vực TP. Hà Nội được phân loại theo CLN, theo hệ thống WQI có tính quốc tế hóa.

Mô hình WQI – HN2 được xây dựng trên giá trị giới hạn của QCVN 08:2008/BTNMT cũng có thể áp dụng. Kết quả phân loại CLN theo mô hình WQI – HN1 và WQI – HN2 là tương đối thống nhất và có yếu tố bổ sung cho nhau trong việc phân loại môi trường nước khu vực TP. Hà Nội một cách chính xác, khách quan.

Dựa vào kết quả phân vùng CLN kết hợp khảo sát thực địa ý kiến thu thập qua các bảng câu hỏi và các QCVN, TCVN về chất lượng nước. Đề tài đã đánh giá và đề xuất khả năng sử dụng nước ở TP. Hà Nội. Theo đó mức độ phù hợp (độ an toàn) cho cấp nước sinh hoạt, thủy sản, du lịch, thủy lợi ở từng đoạn sông đã được đánh giá. Kết quả cho thấy một số đoạn ở sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu có thể cấp nước cho các nhà máy nước nhưng yêu cầu phải xử lý đạt tiêu chuẩn về nước uống của Bộ Y tế. Các đoạn sông này cũng phục vụ tốt cho thủy lợi, thủy sản nước ngọt và du lịch. Phần lớn các đoạn sông Nhuệ đều bị ô nhiễm nặng, không thể sử dụng cho các mục đích trên. Nguồn nước sông Đuống có thể đáp ứng nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp. Ngoại trừ hồ Tây, các sông, hồ khu vực nội thành không thể sử dụng cho các mục đích trên.

Các giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Để bảo vệ nguồn nước có hiệu quả, tất cả các tính toán kiểm tra các chỉ tiêu môi trường của nguồn nước phải được thực hiện trong điều kiện xáo trộn nước thải với nước nguồn yếu nhất. Nếu trong trường hợp này, chất lượng nước nguồn đảm bảo thì trong các trường hợp khác, với mức độ tự làm sạch cao hơn, chất lượng nước chắc chắn sẽ đảm bảo yêu cầu sử dụng. Đối với sông suối, điểm kiểm tra thường ở hạ du miệng xả nước thải và cách điểm lấy nước sử dụng là 500 đến 1000m. Trường hợp nguồn nước mặt sử dụng nuôi cá, điểm kiểm tra cách cống xả nước thải 500 m (đối với sông nước) hoặc ngay tại cổng. Đối với hồ, do dòng chảy luôn thay đổi, điểm kiểm tra cách cống xả nước thải 1000 m (đối với hồ) về mọi phía.

Các biện pháp kỹ thuật bảo vệ nguồn nước

Hạn chế xả chất thải vào sông hồ:

Sản xuất bằng công nghệ sạch và công nghệ ít phát thải

Cấp nước tuần hoàn và sử dụng lại nước thải

Xử lý nước thải

Quy hoạch hợp lý các điểm xả nước thải

Tăng cường tự làm sạch nguồn nước:

Tăng cường xáo trộn tại điểm xả nước thải vào nguồn

Bổ sung nước sạch để pha loãng nước thải

Làm giàu oxy cho nguồn nước

Nuôi trồng thủy sinh

Giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường nước sông khu vực thành phố Hà Nội.

Thực hiện quản lý tổng hợp lưu vực sông

Các biện pháp bảo vệ môi trường nước sông khu vực thành phố Hà Nội

Xử lý nước thải phù hợp điều kiện thành phố Hà Nội

Cải thiện chất lượng các sông thoát nước Hà Nội

Các giải pháp giảm lượng dòng chảy vào mang theo chất ô nhiễm.

Giảm nguồn gây ô nhiễm từ bên trong kênh mương

Thúc đẩy dòng chảy ra khỏi kênh mương mang theo chất ô nhiễm.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.