Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 11/09/2006 16:52 (GMT+7)

Chất độc da cam dưới cái nhìn của khoa học nhân văn*

Hậu quả của chất rụng lá đối với môi trường yêu cầu phải bố trí lại không gian địa lý, nông học, kinh tế và xã hội, một điều đòi hỏi phải nghiên cứu khoa học trước. Sự tàn phá của dioxin đối với sức khoẻ con người, và nhất là tác động gây ra tật nguyền bẩm sinh nghiêm trọng, đòi hỏi hệ thống y tế và hệ thống nhà trường phải thích nghi lại; chúng cũng khiến các biện pháp chăm sóc tâm lý trở nên cấp bách, mà đối với những biện pháp này thì điều cốt yếu vẫn còn phải làm, kể cả ở mức nghiên cứu trước và thí nghiệm trên thực địa 1.

Chúng ta biết rằng một tai hoạ lớn do chất rụng lá gây ra còn tiếp diễn trong lĩnh vực sức khoẻ. Nhưng hậu quả khác của chất rụng lá phải được nhấn mạnh liên tục; chẳng những nó gây ra tác động độc hại lớn đối với con người và cây cối vì độc tính cao của dioxin; nó cũng tàn phá lâu dài thảm thực vật của một bộ phận lớn lãnh thổ Việt Nam phía Nam vĩ tuyến 17. Về tổng thể, khi chúng ta dự kiến những hành động có thể thực hiện chống tai hoạ do chất độc da cam gây ra, chúng ta nhận thấy khoa học nhân văn có thể góp một phần cần thiết trên nhiều mặt trận: chăm sóc người tật nguyền về y tế và xã hội; giáo dục phổ thông và đào tạo nghề nghiệp, đấu tranh chống sự nghèo khổ cùng cực và xoá bỏ nạn thiếu dinh dưỡng, phần mà tầng lớp tiểu nông sẽ được hưởng trong sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và sự hội nhập các tộc người thiểu số, thậm chí chính sách bố trí lại về nông lâm nghiệp.

Dĩ nhiên tôi để các đồng nghiệp Việt Nam chịu trách nhiệm trình bày công trình của họ, và tôi sẽ chú ý ở đây tới đóng góp của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Trừ trường hợp ngoại lệ, tôi sẽ không kể ra tác giả và phòng thí nghiệm, mà chỉ nêu một vài đề tài cắm mốc đường đi của khoa học Nhân văn trong một chiến lược chung đấu tranh hoà bình cho nạn nhân chất độc da cam.

Để khởi động những cuộc trao đổi của chúng ta, tôi xin đề cập tới vấn đề theo những quan điểm chuyên môn khác nhau.

Lịch sử, địa lý và sự bố trí không gian

Ta hãy gác lại các công trình đề cập tổng quát đến diễn biến cuộc chiến tranh (của Mỹ) ở Việt Nam. Nhưng chúng tôi có những công trình sử học liên quan tới chủ định của chúng ta một cách chính xác hơn, đặc biệt về đề tài chiến tranh hoá học và những chiến lược nhằm huỷ hoại môi trường của đối phương 2. Những cuộc điều tra có hệ thống đã được công bố về các giai đoạn khác nhau dẫn tới việc phá trụi lá cây trong cuộc chiến tranh của Mỹ. Càng dễ nắm được tài liệu lưu trữ chính thức của Hoa Kỳ bao nhiêu, công trình nghiên cứu khoa học về việc rải chất rụng lá càng có tư liệu vững vàng bấy nhiêu. Như vậy, việc khai thác những tài liệu quân sự không còn là bí mật quốc gia của Mỹ đã cho phép lập bản đồ chi tiết các vùng trúng độc 3. Việc đó lại cho phép xác định bằng thống kê mối liên quan giữa chất rụng lá với những rối loạn quan sát được trong việc truyền sự sống.

Hơn nữa sau chiến tranh, những công trình phân tích từng giai đoạn chú trọng đến sự tổn hại kinh tế do chất rụng lá gây ra sẽ làm sáng tỏ con đường nhằm đạt tới một sức thúc đẩy mới; thực tế là, vụ kiện của nạn nhân đối với các công ty sản xuất chất độc da cam phải đi liền với việc cải thiện tức khắc số phận họ. Về mặt này, lịch sử kinh tế đã phân tích quá trình làm rõ việc phá rừng sau chiến tranh, sự bành trướng ồ ạt gây tổn hại cho số phận các cư dân chịu tác động mạnh nhất của chất độc da cam cùng những chất rụng lá khác. Việc nhìn lại quá khứ này tạo thuận lợi cho sự chuyển hướng, nhất là hướng về việc phục hồi rừng. Sử học bắt gặp ở đây địa lý học và khoa học chính trị khi vấn đề đặt ra là bố trí không gian và xây dựng một sự phát triển lâu bền. Ta hãy đề cập đến những công trình nghiên cứu đa ngành để khai thác Tây Nguyên về nông nghiệp và rừng; các công trình đó thậm chí mở ra những cách nhìn nhân học về các tộc thiểu số vốn là cư dân trú ngụ lâu đời nhất ở các vùng này. Tuy nhiên, hướng về quá trình khai thác kinh tế, những công trình đó không nhấn mạnh ngay hậu quả của chiến tranh hoá học đối với dân bản địa các vùng chịu tác động của chất rụng lá. Việc bố trí lại không gian sau các đợt phá rụng bắt gặp ở đây một vấn đề tổng quát hơn tại những vùng mà sự phát triển ồ ạt của Việt Nam dẫn đến những chính sách nông lâm nghiệp mới và việc phát triển cây công nghiệp. Quá trình này tạo ra khoảng cách giữa phương pháp sản xuất truyền thống của cư dân bản địa với những khả năng cần thiết cho thành công của cách sản xuất mới; hậu quả gián tiếp là, những đợt di dân ồ ạt làm mất cân đối các tộc người đã có mặt từ xa xưa. Về đề tài này, ta sẽ thấy một loạt ý kiến phân tích đặc biệt phê phán trong các đóng góp của Canada, Pháp và Việt Nam cho một chương trình hợp tác khoa học tiến hành từ năm 2001 đến 2003; kết quả đã được xuất bản dưới tiêu đề Nông nghiệp, môi trường và các xã hội cao nguyên ở Việt Nam4. Giữa những xáo động này, nhiều tộc người thiểu số chịu tác động nặng nề của chất độc da cam khó tìm được chỗ đứng trong số những người được hưởng lợi của sự phát triển chung. Cà phê chắc chắn là thí dụ được nghiên cứu nhiều nhất về cây công nghiệp 5. Sản lượng của Việt Nam đứng hàng thứ 31 trên thế giới năm 1987, đứng hàng thứ 4 năm 1998-1999, bây giờ ở trong số những nước dẫn đầu. Cà phê thường chiếm chỗ của rừng trên cao nguyên, tại những vùng sinh sống của cư dân săn bắt-hái lượm và làm nương rẫy. Đa số việc sản xuất này tập trung ở tỉnh Dăk Lăk, nơi mà thực dân Pháp gọi là vùng của “mọi”, chỉ hấp dẫn các nhà dân tộc học. Nói tổng quát hơn, đất đai “chưa khai thác”, được sự hiện đại hoá kinh tế truyền cho sức sống, thường là những nơi bị chất rụng lá làm trần trụi và có các “tộc người thiểu số” cư trú đông đảo cho đến khi xảy ra cuộc chiến tranh của Mỹ. Chúng ta hiểu tại sao nhân học tham gia nghiên cứu những vấn đề này bên cạnh địa lý học, kinh tế học và khoa học chính trị. Địa lý của việc rải chất rụng lá là chủ đề nhiều công trình khảo sát. Cũng vậy, các công trình nghiên cứu khoanh vùng đã chuẩn bị cho những dự án phát triển (được nhà cầm quyền Việt Nam, các tổ chức nước ngoài và/hay các tổ chức phi chính phủ xúc tiến). Địa lý nhân văn tham gia vào đấy để nghiên cứu môi trường và cư dân. Chúng ta thấy ở đây quy mô của huyện đã cho phép các ngành khoa học cùng tham gia nghiên cứu vấn đề chất độc da cam 6. Tôi thấy một thí dụ rất hay về điều đó với công trình nghiên cứu được Hatfield Consultants Ltd (Vancouver) tiến hành trên thực địa từ mười năm nay ở huyện A Lưới, bị chất rụng lá tàn phá khủng khiếp 7. Đề tài là ảnh hưởng lâu dài của chất độc da cam. Dioxin tiếp tục làm ô nhiễm đất và thực phẩm ở huyện đó, nơi quân đội Mỹ rải đầy chất rụng lá xuống vùng xung quanh căn cứ của huyện trong khu vực A So 8; các vùng chứa hàm lượng dioxin cao nhất chính là những căn cứ này. Địa lý nhân văn trực tiếp tìm hiểu nồng độ dioxin trong một số thức ăn (tế bào cá hoặc vịt) trong máu và sữa mẹ. Về tương quan, một cuộc điều tra về dinh dưỡng của cư dân đã được thực hiện ở thung lũng A Lưới, cộng tác với Khoa Y tế và Dịch tễ học thuộc trường Đại học British Columbia (Canada). Công trình nghiên cứu địa lý này cũng bao gồm việc chuyển giao công nghệ cho chuyên gia Việt Nam để đào tạo, đánh giá tác động độc hại đối với môi trường và những hành động nhằm giảm nhẹ tác động đó. Việc phá rừng ở Việt Nam, dù do chất rụng lá hay do hoạt động nông nghiệp, vẫn là chủ đề những công trình nghiên cứu sâu nằm trong tầm nhìn của chúng ta 9. Chúng tôi đề cập ở đây đến lĩnh vực quy hoạch kinh tế trong khuôn khổ sự phát triển nhanh chóng đang biến đổi đất nước.

Kinh tế học

Trong các công trình phân tích việc khai khẩn những vùng bị chất rụng lá huỷ hoại, ta thấy nhiều công trình nghiên cứu kinh tế về sự phát triển cây công nghiệp (cà phê, cao su, chè, hạt tiêu, v.v...). Thi dụ, những công trình nghiên cứu của một cơ sở đại học Pháp, IRD (Viện nghiên cứu để phát triển của Pháp). Ở mức những giá trị gợi ý cho các công trình đó, nỗi lo lắng cho việc phát triển lâu dài, tuỳ thuộc sự hồi phục tài nguyên thiên nhiên và những đòi hỏi cấp bách của thị trường, đi liền với việc chú trọng đến cư dân, nhất là người bản địa, mà trong đó chúng ta lại thấy ở hàng đầu là những tộc người mà môi trường bị chất rụng lá huỷ hoại. Chúng ta gặp ở đây các vấn đề phá rừng và vấn đề đất đai. Thật vậy, những cuộc di dân, việc chia đất đai và động lực của thị trường ở nhiều nơi đã để phần lớn dân bản địa bị gạt khỏi sự phát triển kinh tế. Thế mà, chính những cư dân đã cư trú lâu đời trong các vùng rừng phía Nam vĩ tuyến 17 lại phải mang gánh nặng nhất của sự huỷ diệt sinh thái và sự nhiễm độc chất dioxin.

Trong các gia đình có trẻ con bị dioxin làm trì trệ sự phát triển, tác động tích tụ của nhân tố nghèo nàn biểu hiện gay gắt:

- Tật nguyền xuất hiện đồng thời ở cả cha mẹ (trực tiếp do chiến tranh) và con cái (dioxin),

- Mất cân đối giữa khả năng lao động với số miệng phải nuôi,

- Phí tổn y tế,

- Khó thoát khỏi chế độ tự cung tự cấp để trông cậy vào chế độ làm kinh tế vi mô của người Việt.

Về những điểm này, tôi xin nhắc lại công trình của Julie Yoder. Training and Employment of People with Disabilities: Vietnam 2002 10 (Đào tạo và tuyển dụng người tàn tật: Việt Nam 2002); nữ tác giả này chỉ nhân tiện đề cập tới những tật nguyền do dioxin, nhưng các quá trình bà phân tích về người tật nguyền nói chung lại thể hiện đặc biệt nặng nề trong các gia đình nạn nhân dioxin.

Nghiên cứu kinh tế vi mô cũng chú trọng đến các gia đình bị tác động của dioxin. Một cuộc điều tra tư liệu đặc biệt phong phú đã được tiến hành năm 2001 và được một nhà nghiên cứu Úc, Michael Palmer, công bố 11; tác giả chỉ ra rằng mức trợ giúp nạn nhân còn thấp hơn rất nhiều so với một khoản đền bù thích đáng, nhưng ông cho rằng tăng số tiền trợ giúp lên nhiều sẽ làm xáo lộn sự cố kết xã hội ở một nước mà một phần lớn dân chúng chịu hậu quả của chiến tranh và 90% dân nông thôn là nghèo khổ. Mặc khác, ông khuyên nên hỗ trợ nạn nhân không phải bằng tiền mà bằng cách miễn phí tổn y tế cho họ.

Ta hãy bắt đầu bằng việc phân biệt giữa các công trình nghiên cứu nhằm bố trí lại các vùng có động vật và thực vật bị tác động của chất rụng lá với những công trình nghiên cứu trực tiếp tác động độc hại của dioxin đối với sức khoẻ con người. Việc tuyển quân trên cả nước và những đợt di dân sau chiến tranh cho thấy ở khắp Việt Nam có người nhiễm độc dioxin. Ở lĩnh vực này, hai phần của nghiên cứu kinh tế phải được chú trọng: ở mức kinh tế vĩ mô, các khoản đầu tư và chi tiêu hiện thời cho việc chăm sóc nạn nhân (tiền trợ cấp, trung tâm chăm sóc hay trung tâm giáo dục chuyên môn, khả năng tài chính để có thể sử dụng hệ thống y tế...); ở mức kinh tế vi mô, sức nặng của những tật nguyền có thể do dioxin gây ra và ngân sách gia đình, với triển vọng về khả năng có những khoản giúp đỡ cho gia đình (cho vay, đào tạo cung cấp dụng cụ như một chiếc máy khâu...). Hành động được chính quyền địa phương, các tổ chức nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ hay các hội tiến hành, nhưng cần có cuộc điều tra kinh tế có hệ thống hơn để đặt ra những chính sách cần thiết.

Trong các công trình nghiên cứu y tế về dioxin, tương quan về thống kê được xác lập trước hết giữa việc khoanh vùng những cuộc rải chất rụng lá với việc khoanh vùng một vài bệnh lý; ở mỗi trường hợp, người ta tham khảo việc nhiễm dioxin ở một người nào đó, để nghiên cứu các rối loạn ảnh hưởng đến chính người đó cũng như để tìm ra những tác động sinh quái thai mà trẻ em hứng chịu 12.

Sự phức tạp của những phương pháp có thể được chấp nhận về mặt kỹ thuật, ở cuộc thảo luận trong cộng đồng khoa học quốc tế, đòi hỏi rất cao: thông thường, chúng tôi không thể coi những lý lẽ dựa trên những thông tin thu lượm được trong khuôn khổ hoạt động nhân đạo là có thể chứng minh chặt chẽ, để quy rối loạn cá nhân cho dioxin cũng như cho các quá trình được xem là có liên quan (di truyền, dinh dưỡng...) 13. Thế nào cũng phải có sự cộng tác giữa khoa học xã hội với y học.

Một điểm chủ yếu là hiện nay không thể phân biệt các rối loạn do tác động (rất nhiều hình thái) của dioxin với những bệnh lý khác của sự phát triển. Để hành động, nhất thiết phải mở rộng phạm vi điều tra với những chương trình xem xét toàn bộ các tật nguyền bẩm sinh, thí dụ để tăng thêm con số các cơ quan chăm sóc hoặc đào tạo chuyên môn 14. Vì phương tiện y tế hiện có, để chẩn đoán cũng như để điều trị, ít thích hợp với rối loạn do dioxin, nên điều hợp lý là đặt việc chăm sóc trẻ em bị nạn vào bối cảnh tổng quát hơn của các chính sách và những sáng kiến của xã hội dân sự có lợi cho trẻ em và người lớn tàn tật. Trong tất cả các vấn đề này, việc sử dụng các ngành khoa học xã hội sẽ giúp ích được nhiều. Thí dụ, đối với cơ chế được đặt ra vì lợi ích những người chịu tác động của tật nguyền bẩm sinh, thì việc so sánh giữa Việt Nam và một nước công nghiệp hoá nào đó phải cung cấp một cách nhận định nhằm đề ra biện pháp thích đáng có thể ứng dụng tùy theo sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

Về tình trạng thật sự của người tật nguyền, một số công trình nghiên cứu toàn bộ đã cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn rất có ý nghĩa. Thí dụ, một công trình nghiên cứu do Thomas T. Kane 15thực hiện đã tập hợp một số lớn dữ liệu dịch tễ học, hành chính, xã hội và y tế về người tàn tật. Tác giả đã đưa ra những khuyến nghị chi tiết. Lúc đó, một sắc lệnh của Chính phủ về người tàn tận quy định một chính sách chặt chẽ có lợi cho họ. Nhưng tờ bào Le Courrier du Vietnam(số 10 thang 1/2006) tóm tắt một tuyên bố gần đây của thủ tướng về kết quả đạt được như sau:

Bảy năm sau khi sắc lệnh về người tàn tật được công bố, các quy định phát lý đối với năm triệu con người đã có đủ, nhưng không được áp dụng trong thực tế. Tỉ lệ học sinh tật nguyền trong các trường còn thấp. Những người này còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng dịch vụ công cộng.

Nhân học, xã hội học và dân số học

Từ lâu đã có những cơ quan khoa học Việt Nam nghiên cứu các tộc thiểu số, tôn giáo dân gian, thuốc cổ truyền... Nhưng trong các huyện chịu tác động nhiều nhất của chất độc da cam, sức ép tai hại đối với sức khoẻ và môi trường đã phá vỡ các hệ sinh thái mà ở đó các tộc thiểu số đã tạo ra những lối sống từ xa xưa thích hợp với rừng nhiệt đới. Sau đấy là dân chúng ồ ạt bỏ quê hương ra đi: những thay đổi triệt để trong hoạt động kinh tế; truyền thống văn hoá bị phá vỡ tàn bạo; một tai biến trong sự liên kết các thế hệ; một mật độ rất cao những tật nguyền nặng trong người lớn và con cái họ. Chúng ta rất cần các công trình nhân học nghiên cứu tình hình hiện thời của những cư dân đó. Ngay ở bình diện văn hoá, chúng ta biết gì về những biểu hiện và thực tiễn liên quan đến dioxin? Những đột biến của huyền thoại do sự phá huỷ rừng nhiệt đới? Vị trí của tập quán trong cách thức các gia đình gánh chịu một nỗi bất hạnh đã dồn họ đến nghèo khổ?

Những công trình nghiên cứu dân tộc học trên thực địa chú trọng đến vấn đề này sẽ đặc biệt có ích ở cao nguyên phía nam vĩ tuyến 17. Dù sao, đối với cả nước, một chính sách đào tạo dân chúng sử dụng phương tiện khoa học trong việc chăm sóc y tế cho mỗi nạn nhân sẽ được làm sáng tỏ bằng cách phân tích sự tồn dư hiện thời của truyền thống liên quan tới bệnh tật. Các cơ chế hỗ trợ tâm lý sẽ được chú trọng trước tiên như thế.

Ở quy mô Việt Nam nói chung, những cuộc đàm thoại trong gia đình của các tổ chức nhân đạo hay khoa học làm nổi rõ tác động làm gia tăng tật nguyền về mặt y tế và xã hội. Thường thường, người cha hay người mẹ không phải chỉ nhiễm độc dioxin; sốt rét, thương tật, và các chấn thương tâm lý cũng làm giảm khả năng lao động và góp phần vào sự nghèo khổ về kinh tế. Kết hợp trong một vài vùng với sự tàn phá môi trường của chất rụng lá, tình huống này thường dẫn đến sự thiếu dinh dưỡng trầm trọng của trẻ em.

Luật học và chính trị học

Ở quy mô quốc tế, vấn đề quyền được bồi thường vẫn chưa được giải quyết, đối với đất nước cũng như đối với mỗi người bị tác động của dioxin; vụ kiện Brooklyn tạo cho vấn đề một tính thời sự tư pháp, ít nhất đối với nạn nhân. Về phía nạn nhân, vấn đề quyền phải được xem xét trong nhiều lĩnh vực: việc chăm sóc, trợ câp tàn tật, cơ chế giáo dục phù hợp, trợ cấp gia đình... Nghiên cứu về luật quốc tế trở nên quyết định cho mọi hành động nhằm đạt được tiền bồi thường từ chính phủ Mỹ, hoặc từ những công ty đã sản xuất chất rụng lá chứa dioxin. Trách nhiệm pháp lý về sự tàn phá của dioxin đã xuất hiện cách đây hai mươi hay ba mươi năm trong những tai nạn công nghiệp, tuy ở một quy mô nhỏ hơn, với những tai nạn như ở Sesevo (1976) và Bhopal (1986). Tất cả các yếu tố này kéo theo những giám định pháp lý, những luận chứng và những lối xét xử đẻ ra việc nghiên cứu pháp lý; chúng lên tới đỉnh điểm với trường hợp huỷ hoại nhất, trường hợp những thiệt hại do chất rụng lá gây cho Việt Nam. Một phụ nữ Pháp, bà Monique Chemillier-Gendreau, giáo sư luật quốc tế, nghiên cứu rất sát vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam đối với các công ty sản xuất chất rụng lá.

Trong các khoa học chính trị, một điều có ích nhất cho việc nghiên cứu chất độc da cam là phân tích các chính sách có lợi cho người tàn tật. Thực vậy, các hành động có lợi cho nạn nhân chất độc da cam thường cũng là những hành động đáp ứng nhu cầu của những người tàn tật khác. Thí dụ, một công trình Nhật Bản nghiên cứu chính sách của Việt Nam về vấn đề người khuyết tật16 đã đối chiếu các điều luật với dữ liệu thống kê. Một phần năm những người khuyết tật nặng có thể quy cho chiến tranh. Chất độc da cam được đề cập tới như nguyên nhân của sự gia tăng số người tàn tật (số liệu thống kê 1994-1995), do những rối loạn sinh sản và cũng do sự tồn dư của dioxin trong một vài môi trường. Cùng thời gian ấy, phần lớn người tật nguyền không có khả năng sử dụng những dịch vụ mà họ cần, vì không có tiền trả. Chúng ta đọc thấy:

Hiện nay, 1,3 triệu người tàn phế nặng nhận được trợ cấp và sự giúp đỡ, trong khi phần lớn người mất khả năng loại vừa hoặc nhẹ đã bị lãng quên. Trong một vài miền, đặc biệt là nông thôn và miền núi, người mất khả năng vẫn bị gạt ra ngoài chương trình cứu trợ xã hội chính thức của Nhà nước hay chỉ nhận được sự giúp đỡ rất nhỏ (trang 9).

Tiếp theo là một bảng kê những nhân tố gây ra những khó khăn này và những chỉ dẫn về các cơ chế hiện nay hữu hiệu nhất: việc đưa vào trường học mọi trẻ em, các tổ chức “tự lực”, những người cung cấp dịch vụ, sự hợp tác khu vực và quốc tế.

Chính sách có lợi cho việc đào tạo nghề nghiệp và tuyển dụng người tàn tật là một chìa khoá chủ yếu ở đây. Cũng vậy, việc phân tích chính sách đấu tranh chống sự nghèo nàn cùng cực đã bắt gặp vấn đề gia đình có con cái tàn tật do dioxin. Một thông cáo gần đây của VAVA (ngày 10/1/1006) nói rằng:

Trong số những người thua thiệt nhất ở mức quốc gia nạn nhân chất độc da cam chiếm một tỷ lệ lớn. Khoảng 30% các gia đình có nạn nhân thuộc diện nghèo nàn, và 40% thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng. Tình trạng sức khoẻ của 30% số người ốm đã kém trước. Một phần ba trẻ em không được đi học.

Cuối cùng, ở trên tôi đã nói đến chính sách đấu tranh chống thiếu dinh dưỡng, tham gia vào đó có những tổ chức quốc tế cũng như tổ chức phi chính phủ.

Kết luận

Các nhà nghiên cứu nước ngoài có thể nêu một quan điểm soi sáng vì có tính so sánh. Hơn nữa, nghiên cứu có đề cập đến những nét riêng trong văn hoá của một nước nào đó, và những nét này tạo thuận lợi cho việc sử dụng một số ngành khoa học có thể cho tới nay vẫn còn kém phát triển ở Việt Nam; những công trình châu Âu về chính sách là một thí dụ tiêu biểu của điều đó. Sau hết, hợp tác xuyên văn hoá có khả năng góp phần mở rộng chiến lược nghiên cứu bằng việc chuyển giao kỹ năng qua đào tạo, thậm chí bằng hợp tác giữa các phòng thí nghiệm Việt Nam và nước ngoài.

Chúng ta có chung niềm say mê thúc đẩy kiến thức khoa học. Nhưng vấn đề tập hợp chúng ta trong Hội nghị này – tai hoạ lớn, còn tồn tại, do chất độc da cam gây ra - động viên chúng ta vì một mục đích còn cơ bản hơn bản thân việc nghiên cứu; đó là giúp đỡ tối đa các gia đình và nạn nhân bất hạnh; với tư cách người nghiên cứu, phương tiện chúng ta có là sử dụng tất cả các ngành khoa học có thể khiến sự giúp đỡ này có hiệu quả hơn. Bổn phận chúng ta là đóng góp vào đấy bằng cách phân tích tình thế hiện nay, với cái nền lịch sử của nó, và bằng cách thảo ra chương trình hành động, để nạn nhân chất độc da cam hưởng lợi ở sự phát triển nhanh chóng của xã hội Việt Nam. Chúng tôi hy vọng Hội nghị này sẽ góp phần vào đấy.

__________________

* Bài tham luận tại Hội nghị Khoa học quốc tế: “Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam - Những điều mong muốn” do Trung tâm NC “Giới và Gia đình và Môi trường” - CGFED” tổ chức - 1/2006.

1Tôi gác lại những ngành nghiên cứu tâm lý, vì Bernard Doray trình bày một thông báo đặc biệt nói về những ngành này.

2Thí dụ, với bài viết của một nhà nghiên cứu ở INRA (Viện Quốc gia nghiên cứu Nông học, Paris) tên là Frédéric Suffert, L’ épidémiologie végétale, nouvelle discipline de guerre? Lumière sur le bioterrotisme agricole. Le courier de l’environnement, No. 47, Octobre 2002.

3Nhất là với bài viết của Jeanne Mager Stellman và đồng nghiệp, The extent and pattern of usage of agent orange and other herbicides in Vietnam, Nature, 422 (ngày 7/4/2003). 681-687.

4Các bài viết được Rodolphe De Koninck, Frédéric Durand, Hélền Guétat và Nguyễn Hữu Đức tập hợp. Sách được nhà xuất bản Arkuiris xuất bản ở Toulouse, và Irasec ở Bangkok năm 2005.

5Ta tìm được một ý kiến tổng hợp và một thư mục gần đây về thí dụ đó trong cuốn sách của Frédéric Fortunel, Le café au Vietnam. De la colonisation à l’essor d’un grand producteur mondial, Paris & Montréal, L’Harmattan, 2000.

6Huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế), trên Tây Nguyên, nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17 một chút. 76% diện tích huyện có các tộc người thiểu số cư trú. Đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua huyện. Quân đội Mỹ đã xây dựng ở đấy những sân bay lớn trong một thời gian. Hậu quả là, chất rụng lá và na-pam đặc biệt dày đặc ở cả vùng này, thậm chí huỷ diệt cả rừng nhiệt đới nguyên sinh.

7Cuộc điều tra này đã được thực hiện với sự cộng tác chặt chẽ của một cơ quan Việt Nam, Uỷ ban 10-88. Hãy xem: Hatfield Consultants & 10-88 Committee, Preliminary to Sparaying of Agent Orange Herbicide during the Vietnam War, West Vancouver, Hatfield Consultants, 1988, hai tập.

8Trước kia gọi là A Sầu.

9Thí dụ, ta có thể có một ý niệm qua một bài viết gần đây của Yann Roche & Rodolphe De Koninck, Les enjeux de la déforestation au Vietnam.

10Bangkok, International Labour Organization, 2004 (Ability Country Studies Series).

11The legacy of agent orange: empirical evidence from central Vietnam, Social science & medicine, 60 (2005, 1061-1070. Công trình nghiên cứu này đã được tiến hành cộng tác với trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu là 30 gia đình bị nhiễm dioxin và 30 gia đình không bị nhiễm, cư trú tại tỉnh Quảng Trị.

12Về việc phân tích phê phán vấn đề, xin xem: John American Agent Orange Health Research: 1965 to 1983, Harvard Medical School, Massachussets General Hospital, tháng 2/2005.

13Ta sẽ thấy một đoạn tổng hợp tình trạng hiện thời những hiểu biết của chúng tôi trong cuốn sách trắng chuẩn bị cho Hội nghị Paris (tháng 3/2005): Yvonne Capdeville, Francis Gendreau và Jean Meynard L’agent orange au Vietnam. Crime d’hier, tragédie d’aujourd’hui, Paris, Editions Tirésias, 2005.

14Thí dụ, ta mong muốn có những chuyên khảo so sánh giữa các cơ quan Việt Nam với những cơ quan Pháp tương tự chuyên về xử lý một loại tật nguyền nào đó (vận động, tâm thần, v.v...)

15Disability in Vietnam in 1999: a meta-analysis of the data, Washington, The Displaced Children and Orphans Fund & War Victim Fund, 1999.

16Country Profile on Disability. Socialist Republic of Vietnam, s.l., Japnn International Cooperation Agency, Planning and Evaluation Department, 2002. Báo cáo này chủ yếu dựa trên một báo cáo do một công ty tư vấn Việt Nam lập nên, Nhat Viet Co, Ltd, Basic Survey on the sector to Support People with Disabilities in Vietnam, s.l., 2001.

Nguồn: Tạp chí Dân tộc học,1(139), 2006, tr 84-89

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.
Lâm Đồng: Gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026
Chiều ngày 15/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026. Dự và chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành và 150 đại biểu trí thức tiêu biểu của tỉnh.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: Hội Chăn nuôi Việt Nam góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN vào phát triển đất nước
Phát biểu chúc mừng Hội Chăn nuôi Việt Nam nhân Kỷ niệm 35 năm thành lập (19/4/1991 - 19/4/2026), Chủ tịch Phan Xuân Dũng khẳng định, với sự năng động và chuyên nghiệp, Hội Chăn nuôi Việt Nam đã góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN trong sự nghiệp phát triển đất nước. Chủ tịch Phan Xuân Dũng đề nghị các thành viên của Hội giữ lửa đam mê, lấy khoa học công nghệ làm động lực phát triển.
Toàn văn Tuyên bố chung nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Toàn văn Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới.