Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 24/08/2006 18:25 (GMT+7)

Chào hay hỏi trong văn hoá Việt

1. Mở đầu

- Người Việt Nam chúng ta vốn coi trọng lời chào - nghi thức lời nói lịch sự mở đầu mọi cuộc hội thoại, bắt đầu của mọi mối quan hệ giao tiếp, thậm chí quyết định đến sự tồn tại hay phát triển của những mối quan hệ đó

“Năng mưa thì giếng năng đầy

Năng liếc năng sắc, năng chào năng quen”(cd)

Bất cứ người Việt Nam nào cũng thấm nhuần triết lí ứng xử của ông cha qua câu tục ngữ : “Lời chào cao hơn mâm cỗ”.

- Là sản phẩm của nền văn hoá Việt, lời chào thể hiện rõ nét bản sắc của nền văn hoá sản sinh ra nó. Chúng ta có thể phần nào thấy rõ hơn điều đó, khi đi vào tìm hiểu, trả lời cho câu hỏi: Người Việt chào hay hỏi?

2. Nội dung

2.1. Một thực tế trong đời sống:

Chúng ta đều thấy người Việt ít khi dùng lời chào trực tiếp - hành vi ngôn ngữ (HVNN) chào có từ “chào” là một động từ ngữ vi (ĐTNV) - động từ mà khi nói cũng là khi người ta thực hiện luôn hành động đó. Ngược lại, đại đa số các trường hợp cần thể hiện hành vi chào, người Việt chúng ta thường biểu đạt bằng HVNN gián tiếp - nghĩa là thông qua một hành vi ở lờikhác để đạt được hiệu lực ở lời“chào”. Thông thường, nó được thay thế bằng các hành vi ở lời khác nhau: mời, hỏi, khen, chúc, thông báo, xác nhận, biểu lộ cảm xúc, trong đó, hành vi hỏichiếm mộ tỷ lệ đáng kể.

Khảo sát sơ lược qua 300 mẫu lời chào trong giao tiếp tiếng Việt, chỉ có 33 mẫu hành vi chào trực tiếp, chiếm 11%. Còn trong 520 hành vi chào gặp mặt, có tới 340 hành vi chào gián tiếp bằng hành vi hỏi, chiếm 65,4%.

Trong tiếng Việt, từ chào thường đi đôi với hỏi thành một từ ghép khái quát: chào hỏi mà trong thực tế sử dụng nhiều khi người ta lại dùng rút gọn để chỉ còn một trong hai yếu tố: hỏitương đương với chào.

- Con không chào cụ à? (a)

- Nó có hỏigì tôi đâu! (b)

Trường hợp của phát ngôn (b) trên, trong lời trách, hỏichính là được dùng thay cho chào.

Phải chăng, đó cũng là tình trạng của một số từ ghép hợp nghĩa trong sinh ngữ tiếng Việt, được dùng rút gọn, còn lại một yếu tố, thường là yếu tố sau, có thể là có nghĩa cổ hơn trong hai từ đồng nghĩa (cộ - xe cộ) hoặc có nghĩa chủ yếu hơn, quan trọng hơn (vá - may vá - ăn nói, chơi - ăn chơi, biết - hiểu biết, mừng - vui mừng, mời - chào mời…).

Cùng ý nghĩa như vậy, bài hát của trẻ em hiện nay có câu: “Khi đi, em hỏi. Khi về em chào” là có ý cho rằng có sự tương đương giữa chào và hỏi- cũng là những lời chào- nghi thức lời nói lịch sự.

Có thể khẳng định mà không sợ võ đoán rằng HVNN chào trong tiếng Việt chính là hành vi chào hỏi, và trong hơn 65% chính là HVNN hỏi.

Rõ ràng phải có những lý do ngoài ngôn ngữ, thuộc về hoàn cảnh giao tiếp rộng và hẹp, mang đặc trưng văn hoá dân tộc quy định hướng chuyển đôi thay thế HVNN chào bằng biến thể này, hoặc thậm chí là có thể đặt vấn đề trong tiếng Việt bản địa, có từ “chào” như một động từ ngữ vi không?

2.2. Chiến lược lịch sự dương tính của văn hoá Việt với lời chào hỏi trong tiếng Việt

Văn hoá Việt thuộc về loại hình văn hoá nông nghiệp điển hình, với mô hình nông dân - nông nghiệp - nông thônmà Gs. Trần Quốc Vượng khái quát. Nền văn hoá này có những đặc trưng nổi bật xuất phát từ lối ứng xử của tộc người - chủ thể văn hoá - với những điều kiện tự nhiên - xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp - phương thức sản xuất, lao động của họ. Đó là tính cộng đồng, tính trọng tìnhđến duy tình thể hiện trong văn hoá giao tiếp thành những đặc trưng: nhiệt tình ở thái độ giao tiếp,lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xửtrong quan hệ giao tiếp, trọng danh dựđối với chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp, cách thức giao tiếpmềm mỏng, tế nhị, linh hoạt, uyển chuyển với một hệ thống nghi thức lời nóivô cùng phong phú, trong đó có lời chào.

Do sự chi phối của tính cộng đồng và tính trọng tình, việc tạo lập và thắt chặt quan hệ giữa các NVGT được đưa thành mục đích hàng đầu của mọi cuộc giao tiếp, thậm chí lớn hơn cả mục đích giao tiếp trực tiếp.

Vì vậy chiến lược lịch sự dương tính (chiến lược chú ý đến mục đích chung, tình thân hữu, hướng tới thắt chặt quan hệ người nói ↔ người nghe, thuộc hành động giữ thể diện theo nguyên tắc Brown và Levinson) chiếm ưu tiên trong chiếc lược lịch sử giao tiếp của văn hoá Việt.

Có lẽ vì thế mà trong HVNN chào với nội dung: Xác nhận việc A nhận ra B; A bày tỏ lịch sự với B (A, B là nhân vật giao tiếp), người Việt chúng ta đã muốn thể hiện nhiều hơn thế: A tỏ lịch sự với B bằng cách tỏ ra:

a) A hiểu biết rõ về B (hoặc muốn biết, quan tâm đến B) → để thông cảm, khoan dung, tế nhị với B

b) A có tình cảm với B (đã có hoặc muốn có)

c) A tôn trọng B (thăm dò, tìm hiểu B, để có thể tôn vinh thể diện tích cực của B, tránh làm tổn thương thể diện tiêu cực của B).

Để hiện thực hoá những điều mong muốn ngoài nội dung chàonói trên, A chỉ có thể tìm cách dễ dàng nhất là thoát ra ngoài nghi thức chàovới khuôn hình khô cứng, phổ quát, khách quan mờ nhạt để tìm đến những câu hỏi đầy cá tính chủ quan, sinh động giúp A thể hiện tình cảm với B và thắt chặt thêm quan hệ A-B.

a) Anh đã khoẻ hẳn chưa mà đã đi làm? Để đấy, em giúp anh.

- Mới ép tóc hả? Trông trẻ trung, hợp với mày đấy.

- Cháu con mẹ T à? Cháu học lớp mấy rồi?

b) Bà. Bà có nhớ cháu không?

- Khiếp. Sao dạo này mày xanh thế?

- Con đã về đấy à? Có mệt không?

- Mẹ nấu cơm à?

c) - Cháu mấy tuổi rồi? Đã đi học chưa mà chững chạc như người lớn vậy?

- Bạn cũng về Hải Phòng à? Nhà ở phố nào?

- Ông hồi này có đỡ hơn không ạ?

- Bác đi đâu đấy ạ?

Những câu hỏi như thế này có thể trở thành hành vi xâm phạm tự do cá nhân, vi phạm phương châm về lượng và chất trong nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice, có thể bị coi là tò mò, thóc mách vào lĩnh vực riêng tư, là bất lịch sự trong một nền văn hoá trọng chiến lược lịch sử âm tính như văn hoá phương Tây.

Tuy nhiên đặt trong hệ thống văn hoá Việt Nam , nền văn hoá coi trọng lịch sự dương tính thì những câu hỏithay chàonhư thế được coi là lịch sự, hợp chuẩn mực xã hội – văn hoá. Nó phù hợp với cách cảm, cách nghĩa, cách ứng xử và khát vọng sống hoà hợp tình cảm, đoàn kết cộng đồng của người Việt.

Kết quả nghiên cứu “Lời chào của người Thái ở Việt Nam ” của Cầm Bạch Thiêm đã khẳng định rằng: không có HVNN chào trực tiếp trong tiếng Thái. Là một dân tộc, một ngôn ngữ có nguồn gốc họ hàng với dân tộc và ngôn ngữ Thái, hình thành trên cơ sở kết hợp giữa Môn Khơme và Tày Thái (theo GS Phạm Đức Dương), phải chăng trong tiếng Việt và văn hoá Việt cũng có điểm tươn đồng này? Có thể nêu giả thuyết rằng: trong tiếng Việt truyền thống - ngôn ngữ bản địa - chưa có động từ “chào” với tư cách một động từ ngữ vi mà chỉ có HVNN chàođược thể hiện bằng nhiều hình thức HVNN ở lời khác, nổi bật là hành vi hỏi với những ý nghĩa dụng học như đã phân tích ở trên.

3 - Kết luận

3.1 - “Chào” là một trong những nghi thức lời nói không thể thiếu được trong hoạt động lời nói, thể hiện phép lịch sự và trình độ văn hoá của con người. Lời chào góp phần tạo lập, củng cố, duy trì phát triển mối quan hệ liên cá nhân trong và sau hội thoại.

3.2 - Là một hành vi ngôn ngữ, cũng như mọi hành động khác của con người, hành vi “chào” vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc ngữ, bởi chịu sự chi phối sâu sắc của văn hoá dân tộc. Chiến lược lịch sự dương tính mang dấu ấn rõ rệt của nền văn hoá đậm tính cộng đồng nông nghiệp, duy tinh, có thể thấy rõ qua xu hướng hiện thực hoá thành vi ngôn ngữ “ chào” bằng HVNN “ hỏi”.

3.3 - So sánh với tiếng Thái - một ngôn ngữ cùng cội nguồn, chúng ta có thêm căn cứ để khẳng định nguồn gốc Đông Nam Á của tiếng Việt cũng như dân tộc Việt, có thể đột phá từ hành trình “Đi tìm nguồn gốc từ “chào” trong tiếng Việt”.

3.4- Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, không đơn giản chỉ là dịch những mẫu câu chào của ngôn ngữ nước đó ra tiếng Việt để bắt học thuộc lòng một cách máy móc, mà phải giúp họ có thể làm chủ được mọi tình huống giao tiếp, với việc chọn đúng từ xưng hô, chào bằng cách hỏi đúng người, đúng việc, đúng hoàn cảnh… mà nhất là thể hiện đúng nội dung tâm lí văn hoá dân tộc, xuất phát từ sự am hiểu nền tảng văn hoá dân tộc đã sản sinh ra ngôn ngữ và mọi hiện tượng của ngôn ngữ đó.

________________

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán - Đại cương ngôn ngữ học, tập II, NXB GD, 1993.

2. Nguyễn Thiện Giáp - Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG, H, 1999. H, 2002.

4. Trần Quốc Vượng - Cơ sở văn hoá ViệtNam , NXB GD, H, 1999. H, 2004.

5. Cầm Bạch Thiêm - Lời chào của người Thái ở ViệtNam , Luận văn Thạc sĩ khoa học nhân văn, ĐHSP, H, 2002.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 4 (126), 2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.
Lâm Đồng: Gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026
Chiều ngày 15/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026. Dự và chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành và 150 đại biểu trí thức tiêu biểu của tỉnh.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: Hội Chăn nuôi Việt Nam góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN vào phát triển đất nước
Phát biểu chúc mừng Hội Chăn nuôi Việt Nam nhân Kỷ niệm 35 năm thành lập (19/4/1991 - 19/4/2026), Chủ tịch Phan Xuân Dũng khẳng định, với sự năng động và chuyên nghiệp, Hội Chăn nuôi Việt Nam đã góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN trong sự nghiệp phát triển đất nước. Chủ tịch Phan Xuân Dũng đề nghị các thành viên của Hội giữ lửa đam mê, lấy khoa học công nghệ làm động lực phát triển.
Toàn văn Tuyên bố chung nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Toàn văn Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới.