Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/11/2009 22:52 (GMT+7)

Chăn nuôi đối với biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí

Vấn đề và xu thế

Khí quyển là nền tảng của đời sống trên trái đất. Ngoài việc cung cấp không khí cho chúng ta thở, khí quyển còn điều hoà nhiệt độ, phân phối nước, đó là một phần của quá trình cơ bản như chu trình các bon, nitơ và oxy; khí quyển bảo vệ đời sống không bị hiểm hoạ phóng xạ. Những chức năng đó phối hợp với nhau bởi các phức hợp lý hoá diễn ra trong thế thăng bằng vừa mong manh vừa mạnh mẽ. Càng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy hoạt động của con người đang thay đổi cơ chế hoạt động của khí quyển.

Trong các phần sau chúng tôi sẽ tập trung vào các quá trình thay đổi khí hậu và ô nhiễm không khí do con người gây ra cũng như vai trò của chăn nuôi trong các quá trình đó (ngoại trừ lỗ thủng tầng ozon). Còn chưa hiểu thấu đáo phần đóng góp vào các quá trình trên của toàn bộ ngành chăn nuôi. Mỗi công đoạn của quá trình sản xuất chăn nuôi đều phóng vào khí quyển những chất làm thay đổi khí hậu và ô nhiễm không khí hoặc đang ẩn cư trong các hồ chứa và đang gây trở ngại. Những thay đổi như vậy hoặc do tác động trực tiếp của chăn nuôi gia súc hoặc do những đóng góp gián tiếp từ các công đoạn khác nhau trong một chuỗi dài kết thúc bằng sản phẩm thực phẩm chăn nuôi thương mại. Chúng tôi sẽ phân tích các quá trình quan trọng nhất, tác động của chúng trong chuỗi thực phẩm và tác động tích tụ của chúng. Tiếp theo sẽ trình bày một số giải pháp lựa chọn để làm dịu bớt tác động.

Thay đổi khí hậu: xu thế và viễn cảnh

Thay đổi khí hậu do con người gây ra ngày nay là một thực tế đã được khẳng định và tác động đối với môi trường cũng đã rõ. Hiệu ứng nhà kính là cơ chế căn bản của điều hoà nhiệt độ. Nếu không có hiệu ứng nhà kính nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất không phải 15 0C mà là -6 0C. Bằng cách phản chiếu ánh nắng và toả nhiệt, trái đất hoàn trả vào không trung năng lượng của mặt trời mà trái đất nhận được. Một phần nhiệt được hấp thụ bởi cái gọi là khí nhà kính. Những khí nhà kính chính của quá trình này là cácbon dioxit (CO2), metan (CH4), oxit nitơ (N2O) và clorofluorocacbon. Từ lúc bắt đầu thời kỳ công nghiệp những phát thải của loài người đã làm tăng nồng độ các khí nói trên trong khí quyển đưa đến kết quả là trái đất ấm dần. Kể từ những năm 1800, bình quân nhiệt độ bề mặt trái đất đã tăng 0,6 0C.

Những ước lượng gần đây cho biết, đến năm 2100 bình quân nhiệt độ sẽ tăng từ 1,4 – 5,8 0C (UNFCCC, 2005).

Trái đất ấm dần lên sẽ làm thay đổi khí hậu, thời tiết như gia tăng mức độ tích tụ trên toàn cầu, thay đổi tần suất và sự khắc nghiệt của các biến cố như bão, lụt, hạn hán.

Khí hậu thay đổi chắc chắn sẽ tác động mạnh đến môi trường. Thông thường thay đổi càng nhanh, nguy cơ thiệt hại càng lớn vượt qua khả năng khắc phục hậu quả của chúng ta. Dự báo, mức nước biển trung bình đến năm 2100 sẽ tăng từ 9 – 88cm, gây ngập úng những vùng thấp và các thiệt hại khác. Các đới khí hậu thay đổi sẽ làm rối loạn các hệ sinh thái vùng rừng núi, sa mạc, đồng cỏ. Kết quả là nhiều hệ sinh thái sẽ bị thoái hoá nhanh hoặc tan vỡ và nhiều loài riêng biệt có thể bị tuyệt chủng (IPCC, 2001 a).

Mức độ và tác động của những thay đổi đó diễn biến tuỳ theo từng vùng. Xã hội sẽ phải đối mặt với những rủi ro và áp lực mới. An ninh thực phẩm trên phạm vi toàn cầu không chắc sẽ bị đe doạ, nhưng một số vùng năng suất những cây lương thực chính sẽ giảm, do vậy sẽ bị thiếu lương thực hoặc xảy ra nạn đói. Các nguồn nước trên khắp thế giới cũng bị ảnh hưởng do hiện tượng ngưng tụ và bốc hơi. Cơ sở hạ tầng sẽ bị thiệt hại do nước biển dâng cao hoặc do biến cố thời tiết khắc nghiệt. Các hoạt động kinh tế, nơi định cư và sức khoẻ của con người cũng bị tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nước nghèo và không thuận lợi, nhất là những nước chậm tiến bị tổn thương lớn nhất do các hậu quả tiêu cực của khí hậu thay đổi và họ thiếu khả năng triển khai các cơ chế đối phó.

Trong những thập niên sắp tới nền nông nghiệp thế giới sẽ đối mặt với nhiều thách thức và khí hậu biến đổi sẽ làm cho các thách thức đó phức tạp hơn. Nếu mức độ trái đất ấm lên trên 2,5 0C, việc cung cấp lương thực trên thế giới sẽ giảm và giá cả sẽ tăng. Tác động đối với sản lượng lương thực và năng suất cây trồng sẽ có những thay đổi lớn. Một số vùng nông nghiệp, nhất là vùng nhiệt đới và á nhiệt đới sẽ bị khí hậu thay đổi đe doạ, trong lúc đó những vùng khác, chủ yếu là các vùng thuộc khí hậu ôn đới và ở các vĩ độ cao hơn sẽ được lợi.

Ngành chăn nuôi cũng sẽ bị tác động. Giá sản phẩm chăn nuôi sẽ cao hơn nếu sản xuất lương thực rối loạn dẫn đến ngũ cốc tăng giá. Đại thể, hệ thống chăn nuôi thâm canh sẽ dễ thích nghi với biến đổi khí hậu hơn hệ thống trồng trọt. Hệ thống chăn thả dựa vào đồng cỏ có thể không thích ứng một cách dễ dàng, Xu thế cộng đồng du mục thích ứng với phương pháp và kỹ thuật mới chậm chạp hơn, chăn nuôi phụ thuộc vào năng suất và chất lượng của đồng cỏ nhưng một số có thể bị tác động xấu của khí hậu thay đổi. Thêm vào đó, do quả đất ấm dần lên mà hệ thống chăn nuôi quảng canh mẫn cảm hơn với sự lan truyền và có tính chất nguy hiểm của một số bệnh và ký sinh trùng.

Tác động của nhà kính khởi nguồn từ hoạt động của con người ngày càng rõ, yếu tố phát thải khí đã được nhận dạng cho nên các bộ máy quốc tế đã được thành lập để giúp chúng ta hiểu biết và nêu vấn đề. Hiệp định khung của Liên hiệp quốc về thay đổi khí hậu (UNFCCC) đã bắt đầu đàm phán quốc tế từ năm 1992 để khẳng định tác động của nhà kính. Mục tiêu của Hiệp định là ổn định khí nhà kính trong không trung trong một khoảng thời gian có thể chấp nhận được cả về mặt sinh thái cũng như về mặt kinh tế. Hiệp định khung cũng khuyến khích nghiên cứu và giám sát các tác động môi trường khác có thể xảy ra và của hoá học không gian. Thông qua Nghị Định Thư Kyoto mang tính pháp lý, Hiệp Định Khung của Liên Hiệp quốc về thay đổi khí hậu tập trung vào tác động trực tiếp của các khí nhà kính phát thải làm cho quả đất ấm dần lên.

Nồng độ các khí nhà kính trước đây và hiện nay:

Phần dưới đây sẽ tập trung mô tả sự đóng góp phát thải của các khí nhà kính của chăn nuôi. Đồng thời cũng nêu các nhận xét về chiến lược giảm thiểu phát thải liên quan đến những thay đổi trong tổ chức phát triển chăn nuôi.

Tác động trực tiếp lớn nhất làm ấm trái đất là khí cacbon dioxit, vì nồng độc và lượng phát thải của nó so với các khí khác cao hơn nhiều. Metan là khí nhà kính quan trọng lưu giữ trong không trung từ 9 - 15 năm. Hiệu quả thu hút nhiệt trong không trung của khí metan 21 lần lớn hơn khí cacbon dioxit. Mặc dù mức độ gia tăng hiện giờ đang giảm, nhưng nồng độ khí CH4 kể từ thời kỳ tiền công nghiệp đến nay đã tăng khoảng 150%. Lượng khí CH4 gia tăng này xuất phát từ các nguồn tự nhiên và các hoạt động ảnh hưởng của con người. Khí CH4 phát thải từ các bãi rác, từ các hệ thống khí đốt và dầu mỏ, từ các hoạt động nông nghiệp, từ các mỏ than đá, từ các lò đốt cố định và lưu động, từ các trạm xử lý nước thải và từ một số quá trình hoạt động công nghiệp (US - EPA - 2005). Theo tính toán của IPCC, gần một nửa lượng khí CH4 trong không trung hiện nay do hoạt động của con người tạo ra. (IPCC, 2001 b). Lượng khí CH4 khởi nguồn từ hoạt động con người tính ra là 320 triệu tấn/ năm nghĩa là bằng 240 triệu tấn cácbon/ năm (van Aardenne và những người khác, 2001). Lượng khí phát thải này tương đương với lượng khí từ các nguồn tự nhiên (Blivier và những người khác, 2002).

Nitơ dioxit là khí nhà kính quan trọng thứ ba có tiềm lăng trực tiếp làm quả đất ấm dần, lượng khí này trong không trung rất nhỏ. Tuy nhiên, loại này hấp thụ nhiệt 296 lần hơn khí cácbon dioxit và tồn tại rất lâu trong không trung (144 năm),

Hoạt động chăn nuôi phát thải một lượng đáng kể 3 loại khí nhà kính nói trên. Từ quá trình hô hấp, tất cả các loại vật nuôi đều phát thải ra khí cacbon dioxit. Từ quá trình tiêu hoá, kể cả tiêu hoá lên men các nguồn thức ăn nhiều xơ, các loại gia súc, nhất là gia súc nhai lại phát thải ra khí metan. Phụ thuộc vào hình thái (dạng lỏng, đặc) và quản lý (thu gom, ủ thành đống, rải đều) chất thải gia súc cũng phát thải các khí như metan, nitơ, dioxit, amoniac và cacbon dioxit.

Chăn nuôi cũng tác động đến cân đối cacbon của đất đồng cỏ và sản xuất thức ăn và do vậy đã gián tiếp phóng thích một lượng lớn cacbon vào không trung.

Việc phá rừng làm đồng cỏ cũng có tác động tương tự. Thêm vào đó, khí nhà kính còn phóng thích ra từ nhiên liệu hoá thạch dùng trong các quá trình sản xuất như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất và kinh doanh các sản phẩm chăn nuôi.

Ô nhiễm không khí: axit hoá và tích đọng nitơ

Các hoạt động nông nghiệp và công nghiệp đã phát thải vào không trung nhiều cơ chất khác làm suy thoái chất lượng không khí của đời sống trên khắp trái đất. Những chất làm ô nhiễm không khí quan trọng là cacbon monoxit, clorofluorocacbon, amoniac, nitơ dioxit, sunfua dioxit và những hợp chất hữu cơ bay hơi.

Gặp độ ẩm và các chất oxy hoá trong không trung, sunfua dioxit và các nitơ oxit chuyển hoá thành axit sunfuaric và axit nitric. Đối với hô hấp, các axit không trung này rất độc, chúng ăn mòn một số nguyên liệu. Những chất ô nhiễm không khí quay trở lại trái đất dưới dạng mưa, tuyết axit, dưới dạng các khí tích đọng và các vi thể tác động phá hoại cây trồng, rừng, gây ô nhiễm ao hồ và suối nước, nước ao hồ không còn thích hợp với đời sống cây trồng và động vật khác.

Mùi hôi thối lan toả ra xung quanh khu vực chăn nuôi chính là do khí amoniac. Một phần đáng kể khí amoniac xuất phát từ chất thải chăn nuôi. Khí amoniac bay hơi là một trong những nguyên nhân quan trọng gây hiện tượng tích tụ axit ẩm và khô trong không trung (khí amoniac ngấm vào đất gây hiện tượng nitrat hoá đất). Mức tích đọng nitơ kết hợp với ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến năng suất rừng của nhiều vùng rộng lớn. Khi những diện tích đã bão hoà nitơ thì những chất dinh dưỡng khác trong đất bị loại khử, kết quả là rừng bị suy kiệt làm mất tác dụng khắc phụ hậu quả của khí CO2 đang gia tăng. Công trình nghiên cứu cho thấy từ 7 đến 18% diện tích của các hệ sinh thái tự nhiên trên toàn cầu thực chất đã vượt qua ngưỡng giới hạn, nguy cơ quá dưỡng và xói mòn đã xuất hiện (Bouwman và van Vuure, 1999) mặc dù sự hiểu biết về mức độ tác động của tích đọng nitơ trên phạm vi toàn cầu còn hạn chế, nhưng nhiều diện tích có giá trị về mặt sinh học đã bị ảnh hưởng (Phoenix và những người khác (2006).

(Còn tiếp)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.