Chăn nuôi - biện pháp phòng bệnh hàng đầu
Sản phẩm chăn nuôi nhập khẩu có giá hạ, chăn nuôi nội địa với giá thành cao nên không thể cạnh tranh được, nên bị ứ động trong chuồng, càng nuôi càng lỗ nặng, muốn “bán chạy” cũng “không chạy”. Dư luận về sản phẩm chăn nuôi có chứa chất melamin trong sữa, trong trứng; thuốc kích thích tăng trọng làm giảm chất lượng sản phẩm và người tiêu dùng lo sợ hạn chế tiêu dùng. Ngoài ra, thiên tai, bão lụt và dịch bệnh cũng đều cướp đi hàng loạt sinh mệnh vật nuôi, nên nhiều người chăn nuôi cũng sạt nghiệp. Biết rằng “chống trời” rất khó nhưng cần đề phòng để giảm bớt thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gây ra, tuỳ theo từng vùng, từng đối tượng vật nuôi để có biện pháp đề phòng thích hợp.
Để hạn chế những nguyên nhân làm chậm phát triển của ngành chăn nuôi, tuỳ theo nhiệm vụ chức năng của cơ quan quản lý kinh tế nhà nước và cơ quan quản lý chuyên ngành, từ bài học đáng nhớ trong thời gian qua, cần rút kinh nghiệm để có biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi tăng trưởng bình thường. Muốn vậy, cần có tầm nhìn chiến lược, có được dự báo nền kinh tế xã hội gắn với dự báo chiến lược chuẩn xác của ngành, có bước đi từng thời gian, từng vùng, từng đối tượng vật nuôi… kịp thời điều chỉnh cho thích hợp.
Người chăn nuôi mong mỏi trông chờ những yếu tố của xã hội tác động tích cực, để hỗ trợ cho ngành chăn nuôi phát triển bền vững. Về phần chủ quan của người chăn nuôi cũng cần có những kiến thức áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để chăn nuôi có hiệu quả. Tất nhiên, có nhiều yếu tố tác động đến phát triển chăn nuôi của từng trang trại, của từng hộ về tổ chức quản lý và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, trước hết là khâu phòng bệnh cho gia súc, gia cầm. Vì nếu dịch bệnh xảy ra sẽ xoá sạch toàn đàn, nếu vật nuôi tuy sống sót hoặc mang bệnh cũng hạn chế sinh trưởng và sinh sản. Cho nên, việc phòng bệnh phải luôn được chú trọng toàn diện và thường xuyên trong quá trình chăn nuôi.
Dưới đây, xin giới thiệu một số biện pháp phòng bệnh chính để người chăn nuôi tham khảo và áp dụng sáng tạo và điều kiện cụ thể, nhằm góp phần tăng sức khoẻ của vật nuôi, nâng cao năng suất sinh trưởng và sinh sản; đồng thời hạn chế dịch bệnh xảy ra.
1. Chọn giống và quản lý chăm sóc vật nuôi
- Tuyển chọn những vật nuôi từ bố mẹ mạnh khoẻ, giống tốt, bản thân con giống có đủ tiêu chuẩn của mục đích nuôi. Nếu phải mua giống bên ngoài nên đến những cơ sở có giống tốt và an toàn dịch bệnh, đưa về nuôi phải nuôi cách ly để theo dõi. Nên nuôi trong đàn có cùng khối lượng và tháng tuổi để dễ định khẩu phần ăn, tránh con lớn, con khoẻ tranh ăn của những con bé và yếu. Tạo điều kiện cho lúc xuất chuồng có độ đồng đều cao. Quá trình chăm sóc tránh đánh đập hoặc có hành vi thô bạo đối với vật nuôi, tạo sự thân thiện để luyện cho vật nuôi theo ý muốn.
- Đối với gia cầm, cần chú ý từ khâu thu nhặt trứng, chọn trứng có đủ tiêu chuẩn ấp. Trứng trước khi đưa vào tủ ấp cần sát trùng vỏ trứng và tủ ấp bằng formol và thuốc tím (KMnO 4) với liều lượng 15g thuốc tím và 30 ml formol/ 1m3 buồng xông và thời gian xông trứng giống khoảng 15 - 20 phút. Ngoài ra, cần quản lý và nuôi dưỡng tốt từ lúc mới nở đến tuổi sinh sản và giết thịt.
2. Biện pháp phòng bệnh
a. Dùng thuốc thú y
- Phòng bệnh bằng vacxin: đối với bệnh dễ lây lan, gây chết nhiều và có thể trở thành dịch, bắt buộc tim phòng định kỳ bằng vacxin theo quy định của thú y. Những bệnh mà vật nuôi thường mắc, nếu có văcxin đặc hiệu cũng cần tiêm phòng được thú y hướng dẫn.
- Phòng bệnh bằng hoá chất: đối với những bệnh mà sự phát sinh của nó tuỳ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể như chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, các yếu tố stress (thời tiết, vận chuyển vật nuôi, thay đổi chuồng trại…) thì việc phòng bệnh bằng vitamin, chất điện giải, kháng sinh… sẽ có hiệu quả hơn là sử dụng vacxin.
Khi phát hiện trong đàn vật nuôi có con mắc bệnh phải cách ly kịp thời, tiến hành theo dõi và điều trị tích cực. Tuỳ mức độ bệnh có thể báo để thú y can thiệp.
b. Vệ sinh chuồng tại và các trang thiết bị chuồng nuôi
Chuồng trại trong chăn nuôi phải được xây dựng nơi đủ ánh sáng, thoáng, cao ráo và dễ thoát nước. Khu chuồng trại chăn nuôi phải bảo đảm khoảng cách an toàn (tùy theo số lượng đầu con) như xa khu dân cư, trường học, nhà máy và chợ… tối thiểu 10m. Đối với khu vực xử lý phân, nước thải phải cách xa nguồn nước (giếng, suối, sông rạch…) tối thiểu 20m. Ngoài khu vực trên còn có khu nhốt gia súc mới nhập, khu cách ly gia súc bệnh. Riêng khu xử lý rác gia súc chết phải có lối đi riêng, nên bố trí cuối hướng gió và vị trí cũng phải thấp hơn so với khu khác.
Chuồng trại phải thuận tiện cho việc quản lý, nuôi dưỡng và chăm sóc. Trước cổng trại, đầu mỗi khu dãy chuồng cần phải có hố sát trùng và thường xuyên thay hoá chất sát trùng (2 - 3 ngày/ lần), nhằm ngăn chặn sự lây lan mầm bệnh từ bên ngoài vào. Nếu cơ sở có bãi chăn thả gia súc thì phải có hàng rào, phân lô và có chế độ vệ sinh tiêu độc định kỳ. Phương tiện vận chuyển khi đi ra, vào trại phải được phun xịt bằng hoá chất sát trùng. Dụng cụ của khu, dãy chuồng nào phải để ở khu, dãy chuồng đó và khi dùng xong phải rửa sạch, sát trùng và để đúng nơi quy định.
c. Vệ sinh thức ăn và nước uống
- Đối với thức ăn: Kho bảo quản thức ăn cao ráo, thoáng và không ẩm ướt. Tuyệt đối không xây dựng nhà kho gần ao, hồ, sông, suối và nên bố trí cách biệt khu chăn nuôi. Nền kho phải cao hơn mặt đất khoảng 60 - 80cm. Kho chứa phải phân khu, xếp theo chủng loại nguyên liệu riêng, nguyên liệu sạch thu hoạch hoặc dự trữ phải xử lý khô. Nên có khung gỗ để xếp nguyên liệu, thức ăn hỗn hợp trên sàn khung. Thức ăn cần để gọn gàng, dễ phân biệt và để cách xa tường 30 - 50cm. Định kỳ kiểm tra chất lượng nguyên liệu để có biện pháp xử lý kịp thời. Thỉnh thoảng nên đảo nguyên liệu từ dưới lên, từ trên xuống và từ trong ra ngoài. Lối ra vào kho phải có hố sát trùng và khoảng 2 - 3 ngày thay hoá chất một lần.
Nguồn nguyên liệu dùng để làm thức ăn cần phải được kiểm tra kỹ (mối, mọt, mốc) trước khi chế biến. Trong thức ăn phải không có mùi chua, mùi hôi, thối, mùi khác lạ và không nên dự trữ thức ăn trong kho quá 15 ngày. Các chất sử dụng trong thức ăn có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, có hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, tuyệt đối cấm không được sử dụng.
- Đối với nước uống: Nguồn nước cho gia súc, gia cầm uống hay trộn vào thức ăn phải đảm bảo không có mầm bệnh, không mùi hôi thối, độ pH 6,5 - 8,5; độ cứng (CaCO 3) 500 mg/lít; không có NO 2; NO 3trên 10 mg/lít (tính theo N); hàm lượng sắt dưới 0,3 mg/lít. Định kỳ hàng năm, cơ sở chăn nuôi cần kiểm tra vệ sinh nước 2 lần/ năm.
d. Vệ sinh đối với người chăn nuôi
Người chăn nuôi phải mặc trang phục lao động (quần áo, giày ủng, khẩu trang riêng) trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng gia súc, gia cầm và phải hạn chế tối đa đi từ trại, khu, dãy chuồng này sang trại, khu, dãy chuồng khác. Ngoài ra, cơ sở chăn nuôi cần hạn chế tối đa khách tham quan vào khu vực chăn nuôi. Người chăn nuôi cần đến cơ sở y tế để kiểm tra sức khoẻ định kỳ, ít nhất 1 năm/ lần.








