Chăm sóc bưởi Da Xanh Bến Tre
Kỹ thuật tạo nhánh nhện
Cây bưởi nên trồng nơi đất thoáng ráo, đầy đủ ánh sáng. Trồng quá dày hoặc trồng dưới các tán cây khác, cây dễ bị cằn hoặc vượt lên chỉ phát triển chiều cao, không tạo nhiều nhánh nhện được; đến lúc cây cho trái, trái sẽ tập trung chủ yếu ở trên đọt ngọn, chậm lớn, năng suất không cao.
Cây bưởi Da Xanh khi lớn tốt đủ sức cho trái khoảng 2,5-3 năm tuổi. Muốn lặt lá nhánh nhện cho ra hoa, ta nên bón phân cho cây nhiều hơn lúc bình thường một chút, đặc biệt là phân lân để cây tạo nhiều rễ cám giúp cây đủ sức phân hoá mầm hoa, đồng thời thường xuyên tưới nước, giữ độ ẩm cho cây đến ngày đơm hoa đậu trái thì trái mới đậu tốt.
Tiến hành lặt lá nhánh nhện, từ gốc lặt lên. Nhìn nhánh nhện nào già nhất trong các nhánh nhện thì ta lặt hết lá, chỉ chừa lại cọng không. Lưu ý độ sức của cây có thể mang được bao nhiêu trái để lặt vừa đủ số nhánh nhện tương ứng. Bình quân nếu lặt lá 10 nhánh nhện thì cho 15 trái, nếu lặt lá 20 nhánh thì cho 30 trái. Như vậy, ta không nên lặt lá quá nhiều nhánh, sẽ bất lợi cho đợt kế tiếp trong năm. Nếu cho cây bưởi ra trái đầu trong năm là tốt, trái lớn, chất lượng tốt và năng suất cao.
Kỹ thuật bón phân
Nói chung với cây có múi, ta cần bón nhiều phân hữu cơ đã ủ, giàu mùn và tơi xốp (các chất dinh dưỡng chủ yếu lúc ấy ở dạng dễ tiêu) theo cách sau:
- Trên diện tích 1.000m 2đất trồng bưởi, bón lần đầu bằng cách rải đều khoảng 400kg phân hữu cơ đã ủ hoai. Sau thời gian 15 hoặc 20 ngày, rải tiếp 300kg phân hữu cơ nữa và đến thời điểm 40 ngày, rải tiếp 300kg phân hữu cơ cho lần thứ ba là dứt đợt.
- Nếu bón phân hoá học, cứ 1.000m 2rải 25kg cũng chia thành ba lần: lần đầu 10kg, lần hai 8kg và lần ba 7kg.
Lưu ý: tuỳ theo tình trạng dinh dưỡng của đất mà bà con chọn cách bón cho phù hợp, thông thường một năm bón phân ba đợt chính: đợt 1 vào tháng 11-12 bón phân hữu cơ; đợt 2 vào tháng 3-4 bón phân hoá học như AT1 hoặc pha chế phân hữu cơ khác; đợt 3 vào tháng 6-7 bón phân hữu cơ.
KS. Đinh Trí Tinh
Trung tâm Khuyến nông - khuyến lâm Khánh Hoà
Nguồn: Khoa học Công nghệ và Môi trường Khánh Hoà, số 3/2006








