Cấy "lý lịch điện tử" cho cá tra, cá basa bố mẹ
Bước ngoặt trong nghề nuôi cá tra, basa là từ sau năm 1997, khi các nhà khoa học can thiệp thành công cho cá tra, basa sinh sản nhân tạo. Trước đó, muốn có cá giống các hộ phải mua lại từ những người câu lưới cá giống trên sông Hậu, sông Tiền, giá thành cao có lúc 2.000 đ/con bằng ngón tay út nhưng thương tích đầy mình vì vướng câu, lưới. Tỷ lệ ương cá tra bột sinh sản nhân tạo lúc ấy rất cao, đối với cá tra 24 giờ tuổi ương lên thành con giống đạt từ 30 - 70%, đủ sức đáp ứng nhu cầu chăn nuôi của các hộ. Giá cá tra bột 24 giờ tuổi thời điểm 1998 từ 50 - 80 đ/con, rất rẻ cho người nuôi và rất lý tưởng cho các trại ương giống.Sau 10 năm kể từ khi con cá tra bột nhân tạo ra đời, lẽ ra với những kiến thức mới bổ sung và kinh nghiệm tích lũy cùng các tiến bộ khoa học, tỷ lệ sống và chất lượng con giống phải tăng gấp nhiều lần, nhưng hiện nay, tỷ lệ sống chỉ đạt mức 10 - 25%, thậm chí có đợt ương mất trắng, mặc dù cơ sở ương giống hiện nay phải sử dụng rất nhiều loại thuốc và thức ăn “đặc chủng”. Đã thế, những năm cá thương phẩm dội chợ mất giá, cá giống cũng dội chợ theo rớt giá thê thảm. Cá con không bán được nhưng đàn cá bố, mẹ vẫn phải chăm sóc đặc biệt thì mới cho ra đời đàn con chất lượng. Trong khi đó, đàn cá bố mẹ của An Giang hiện nay mỗi con trung bình đã nặng trên dưới 10 kg, gần bằng “huynh đệ” của chúng sống trên thượng nguồn. Việc chăm sóc, vì vậy, tốn kém, các cơ sở ương nuôi “oải”, chăm sóc cầm chừng, thậm chí bỏ đói vài ngày. Mặt khác, do không có kế hoạch quản lý đàn cá bố mẹ từ ban đầu cho nên cá giống hiện nay dù chưa có kết luận chính thức nhưng đã có dấu hiệu suy thoái do đồng huyết.
Trước thực trạng đó, UBND tỉnh An Giang đã ra Quyết định số 923/QĐ - UB về việc lập chương trình quản lý đàn cá giống bố mẹ, vừa qua, Chi cục Thủy sản tỉnh đã bắt đầu triển khai. Từng con cá bố mẹ được làm lý lịch. Mỗi con được cấy một thẻ từ dưới da chứa đựng mọi thông tin liên quan đến hết dòng đời của cá. Mỗi thẻ có mã số riêng để truy cập. Trước đây người ta quản lý bằng cách đeo thẻ kim loại ngoài da cho cá nhưng hay bị mất vì rớt ra. Với thẻ điện tử này sẽ nắm được quá trình sinh sản của cá, từ đó, có thể loại cá bố mẹ kém chất lượng, biết được lý lịch cá thịt có cha mẹ là ai, xuất xứ từ trại giống nào.
Năm 2006 này, cá tra, basa lên cơn sốt, các cơ sở ương giống lại nở rộ như nấm. Chỉ riêng An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ đã có khoảng 70 trại ương giống. Con giống thiếu, người ta phải lặn lội vào trại giống của Công ty sông Hậu mua về nuôi. Tại An Giang có 3 trại giống lớn với 4 vệ tinh cùng hàng chục cơ sở ương các loại, mỗi năm cho ra đời 130 triệu con giống, đáp ứng 2/3 nhu cầu. Toàn vùng ước tính sản lượng cá nguyên liệu năm nay đạt khoảng 400.000 tấn và sẽ tiếp tục phát triển mạnh vào các năm tới, nếu không quản lý được đàn cá bố mẹ thì chất lượng cá thương phẩm sẽ ngày càng giảm, mà người nuôi cá ngày càng “gặp nạn” nhiều hơn. Tuy nhiên quản lý cá bố mẹ thì phải làm đồng loạt bởi các tỉnh đầu nguồn đang triển khai kế hoạch nuôi cá tra, basa rất mạnh, việc chạy mua con giống từ tỉnh này qua tỉnh kia rất rầm rộ mỗi khi vào vụ nuôi. An Giang đang triển khai chương trình nuôi cá tra, basa “sạch từ con giống đến bàn ăn”, nhưng thực trạng bát nháo như trên thì chỉ sạch “phần đuôi”, trong khi con giống lại quyết định hơn 50% chất lượng thành phẩm.
Nguồn: Khoa học phổ thông 6/6/2006








