Cây Huyết giác
Là loài cây nhỏ, cao 2 - 3m, thân mọc thẳng, ít khi phân nhánh. Khi có phân nhánh thì từ thân mọc ra một nhánh. Nhánh này vươn thẳng lên chứ không xoè ngang.
Thân cây và thân nhánh (nếu có nhánh) đều có những ngấn ngang; là vết tích của lá đã già, rụng đi, kiểu như ở thân cây Cau, cây Dừa. Lá hình mác, dài 0,5 – 1m, rộng 3 – 4cm, có bẹ ốp vào thân cây. Hai mặt lá trơn nhẵn, màu lục đậm. Cụm hoa mọc ở ké lá thành chùm rộng và dài đến 1m, hoa màu vàng, phân nhiều nhánh.
Quả mọng, hình cầu, đường kính 1cm. Khi chín màu đỏ, chứa 3 hạt.
Cây mọc rải rác ở các vùng đồi núi, ven biển, các khe núi đá. Khi cây đã già, chết khô, róc bỏ phần thân cây bị mục nát còn lại phần gỗ màu đỏ nâu là dược liệu có tên huyết giác.
Tính vị:vị ngọt, tính bình. Chống đông máu, kháng khuẩn, kháng nấm.
Điều trị
Chấn thương, bắp thị tím bầm, sưng đau, mỏi tay chân sau lao động
Thuốc uống
Huyết giác 20g
Đương quy 20g
Ngưu tất 20g
Ngũ vị tử 15g
Nấu sắc uống.
Rượu uống
Huyết giác 100g
Đương quy 50g
Bạch chỉ 50g
Quế chi 30g
Rượu 1 lít
Mỗi lần uống 30ml.
Rượu xoa
Huyết giác 100g
Nhục quế 30g
Địa liền 30g
Hạt Gấc 20 hạt
Rượu 1 lít
Trị nấm da
Huyết giác 200g
Rễ cây Kiến cò 100g
Xuyên tâm liên 100g
Ké đầu ngựa 50g
Rượu 1 lít
Dược liệu chặt nhỏ, giã nát, ngâm rượu, bôi nơi nấm da.
Không dùng thuốc có tác dụng cầm máu, đông máu cùng lúc với thuốc có Huyết giác.








