Cấy điện ốc tai
BS Nguyễn Thị Bích Thuỷ, thân nhân Qua điều tra cho thấy: tỷ lệ điếc là 1/1.000. Đối với bệnh nhân điếc sâu và nặng ở cả hai tai và đeo máy trợ thính không hiệu quả, cấy điện ốc tai là phương pháp tốt nhất giúp bệnh nhân nghe được. Ốc tai điện tửlà một thiết bị vi mạch điện tử có điện cực cấy vào trong ốc tai giúp cho bệnh nhân nghe được nhờ vào một hệ thống tiếp nhận, dẫn truyền và khuyếch đại các tín hiệu âm thanh đặc biệt. Trên thế giới, việc cấy điện ốc tai đã được thực hiện cách đây hơn 30 năm. Đến đầu thập niên 1980, các nước trong khu vực Asean đã áp dụng cho bệnh nhân. Tại Việt Nam, vào tháng 9 - 1998, ba trường hợp cấy điện ốc tai đầu tiên, đơn kênh, được thực hiện tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM với sự giúp đỡ hướng dẫn của giáo sư Whitaker - Viện House, California, Hoa Kỳ. Từ tháng 5 - 2000, Bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM tiếp tục chương trình cấy điện ốc tai với loại đa kênh trên 41 bệnh nhân. Lịch sử Vào năm 1790, Alessandro Volta phát hiện ra việc kích thích điện lên hệ thống thính giác tạo ra khả năng tiếp nhận âm thanh. Vào năm 1950, Algerie Adre Djourno và Charles Eyries (Pháp) thực hiện kích thích trực tiếp lên thần kinh thính giác với một điện cực. Năm 1957, Djourno, Eyries và William House (Viện House - Los Angeles ) đã báo cáo các trường hợp cấy ốc tai điện tử đơn kênh. Đầu năm 1970, Graeme Clark và cộng sự tiến hành nghiên cứu ốc tai điện tử đơn kênh tại Melbourne . Vào ngày 16 - 12 - 1977, giáo sư Kurt Burian đã cấy ghép ốc tai điện tử đa kênh. Thiết bị này do các nhà khoa học Ingeborg và Erwin Hochmair chế tạo. Vào tháng 12 - 1984, FDA (Hoa Kỳ) đã chấp thuận cho cấy ốc tai điện tử đa kênh được sản xuất tại Úc ở người lớn bị điếc sâu. Năm 1990, FDA cho phép cấy ốc tai ở trẻ em 2 tuổi, năm 1998 ở trẻ 18 tháng tuổi và năm 2002 ở trẻ 12 tháng tuổi. Cấu tạo của hệ thống ốc tai điện tử(gồm 2 phần) - Phần bên ngoài được đeo sau tai gồm 3 bộ phận: 1 micro nằm ngay sau tai để thu nhận âm thanh từ môi trường xung quanh; 1 bộ phận xử lý ngôn ngữ giống như một radio nhỏ bỏ túi, chọn lọc và mã hoá những âm thanh dùng để hiểu lời, có thể được đeo ở bất kỳ chỗ nào thấy thuận tiện và 1 sợi mảnh nối 2 bộ phận trên có nhiệm vụ truyền thông tin. - Phần bên trong được phẫu thuật đặt trong xương phía sau tai. Cấu tạo gồm có: một nam châm, một bộ phận vừa tiếp nhận vừa kích thích và các điện cực xếp theo hàng kéo dài từ bộ phận tiếp nhận đến ốc tai. Hoạt động của hệ thống điện ốc tai 1) Âm thanh đi vào micro ở sau tai 2) Từ micro âm thanh được truyền đến bộ phận xử lý ngôn ngữ qua transmitter. 3) Bộ phận này chọn lọc và mã hoá những âm thanh để hiểu lời. 4) Những mã hoá này được truyền trở lại transmitter. 5) Transmitter truyền các mã hoá đến bộ phận tiếp nhận. 6) Bộ phận tiếp nhận chuyển những mã hoá này thành những tín hiệu điện đặc biệt và chuyển chúng đến các dãy điện cực. 7) Các điện cực được xếp thành hàng trong một ống mềm silicon. Mỗi điện cực có một sợi dây nối với bộ phận tiếp nhận. Những tín hiệu điện được truyền đến những điện cực đặt biệt mà mỗi điện cực này có những chương trình đặc biệt để cung cấp âm thanh theo độ lớn và âm sắc khác nhau. Những điện cực này kích thích các sợi thần kinh thính giác để truyền thông tin đến não. Ốc điện tử khác với máy trợ thínhở điểm: Máy trợ thính khuếch đại âm thanh do đó có thể bị cản trở do các tổn thương của tai. Ốc tai điện tử đi tắt qua vùng bị tổn thương của tai và kích thích trực tiếp dây thần kinh thính giác. Tín hiệu được tạo ra bởi ốc tai điện tử được truyền qua dây thần kinh thính giác đến não, não sẽ nhận diện các tín hiệu này như là âm thanh. Nghe qua một ốc tai điện tử khác với nghe bình thường và phải có thời gian học nghe lại.
và bệnh nhi được cấy điện ốc tai
tại Lễ kỷ niệm 10 năm cấy điện ốc tai
Điếc là một khiếm khuyết về giác quan, thường gặp nhất ở trẻ em, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và sự phát triển của trẻ. 
Hiệu chỉnh máy sau khi cấy điện ốc tai
Luyện nói sau cấy điện ốc tai
Mô hình kỹ thuật cấy điện ốc tai
Việc chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuậtcấy điện ốc tai đóng vai trò rất quan trọng góp phần theo dõi và phát triển các biến chứng nguy hiểm (nếu có) như liệt mặt, viêm màng não, chảy máu, nhiễm trùng vết mổ; để có hướng điều trị kịp thời, giúp cho phẫu thuật cấy điện ốc tai đạt hiệu quả cao nhất.
Sau cấy điện ốc tai, trẻ nghe được những âm thanh tiếng động, nhưng trẻ không hiểu được tiếng nói. Việc luyện tập nghe và nói sau phẫu thuậtgiúp trẻ nghe hiểu và giao tiếp được. Đối với người lớn và trẻ em điếc sau ngôn ngữ (sau học nói), kết quả trả lại giao tiếp bình thường cho bệnh nhân sau một năm. Đối với bệnh nhi điếc bẩm sinh (trước học nói), kết quả tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể tiên lượng trước như tuổi cấy ốc tai, thời gian đeo máy trợ thính trước khi cấy, mức độ quan tâm luyện tập cho bé của gia đình, hoạt động của các sợi dây thần kinh thính giác… Sau 2 - 3 năm luyện tập sau cấy ốc tai, đa số bệnh nhi đạt kết quả phát triển ngôn ngữ xuất sắc, tốt và khá; phần lớn các bé có thể hội nhập vào môi trường học bình thường.
Một số chuyên gia nước ngoài nhận thấy: cấy điện ốc tai lúc 12 tháng tuổi thì kết quả nghe và sự phát triển ngôn ngữ rất tốt. Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM, hiện nay độ tuổi cấy điện là 3 - 6 tuổi do nhiều yếu tố: Trẻ được phát hiện trễ; gia đình dành đủ tiền mới cấy… Tuổi trên 3 mới được cấy thì kết quả hạn chế.
Những hạn chế của cấy điện ốc tai
- Không thể giúp tất cả những người điếc nặng và sâu mà phải chọn lọc.
- Có thể giúp người này nhiều hơn người kia.
- Âm thanh nghe được qua cấy điện ốc tai khác với nghe bình thường. Người điếc phải học dịch những gì họ nghe được, vì thế cần có thời gian và kinh nghiệm.
- Tai biến có thể gặp sau đặt máy trong tai là liệt mặt, viêm màng não, viêm tai giữa, chóng mặt, ù tai…
- Một số trường hợp rất hiếm phải mổ lấy ra đặt lại ốc tai mới vì một số nguyên nhân: bộphận bên trong không hoạt động, hoạt động không hiệu quả do ốc tai tiếp tục cốt hoá… hoặc bệnh nhân muốn đổi loại đời mới hơn.
Sau 10 năm thực hiệnphẫu thuật và huấn luyện thanh thính học cho bệnh nhân cấy điện ốc tai tại Việt Nam , kết quả cho thấy: đây là phương pháp tối ưu để giúp cho người bị điếc sâu và nặng có thể cải thiện được sức nghe của bản thân và hội nhập vào đời sống xã hội. Sự thành công không phải chỉ phụ thuộc vào bàn tay khéo léo của phẫu thuật viên mà còn là kết quả của một quá trình phối hợp chặt chẽ giữa bệnh viện, gia đình và xã hội từ khâu chỉ định cho đến huấn luyện thính học, thanh học, tập giao tiếp trong gia đình và nâng cao kỹ thuật giao tiếp ngoài xã hội thông qua trường học.








